<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Nguyễn Trọng Tạo</title>
	<atom:link href="http://nguyentrongtao.org/feed" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://nguyentrongtao.org</link>
	<description>H ộ i  N g ộ  V ă n  C h ư ơ n g</description>
	<lastBuildDate>Sat, 04 Sep 2010 03:57:15 +0000</lastBuildDate>
	<generator>http://wordpress.org/?v=2.9.2</generator>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
			<item>
		<title>Vũ Thanh Hoa: KÝ ỨC BẤT NHÃ</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/vu-thanh-hoa-ky-%e1%bb%a9c-b%e1%ba%a5t-nha.xml</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/vu-thanh-hoa-ky-%e1%bb%a9c-b%e1%ba%a5t-nha.xml#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 04 Sep 2010 03:02:40 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chung]]></category>
		<category><![CDATA[Tiêu điểm]]></category>
		<category><![CDATA[Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Của Bạn]]></category>
		<category><![CDATA[Vũ Thanh Hoa]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=5373</guid>
		<description><![CDATA[Truyện cực ngắn của VŨ THANH HOA

Suốt quãng đường đến bến  tàu, chốc chốc chị lại mỉm cười. Từ khi li dị đến nay đã gần ba năm, có lẽ giờ chị mới gặp lại cảm giác hạnh phúc. Người đàn ông chị đón là người yêu đầu tiên thuở Đại học. Người đã ngọt ngào, [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em>Truyện cực ngắn</em> <em>của</em> <strong>VŨ THANH HOA<br />
</strong></p>
<div id="attachment_5375" class="wp-caption alignleft" style="width: 259px"><a rel="attachment wp-att-5375" href="http://nguyentrongtao.org/vu-thanh-hoa-ky-%e1%bb%a9c-b%e1%ba%a5t-nha.xml/vthoa7"><img class="size-full wp-image-5375" title="vthoa7" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/09/vthoa7.jpg" alt="" width="249" height="421" /></a><p class="wp-caption-text">Vũ Thanh Hoa</p></div>
<p>Suốt quãng đường đến bến  tàu, chốc chốc chị lại mỉm cười. Từ khi li dị đến nay đã gần ba năm, có lẽ giờ chị mới gặp lại cảm giác hạnh phúc. Người đàn ông chị đón là người yêu đầu tiên thuở Đại học. Người đã ngọt ngào, đắm say bước vào cuộc đời con gái của chị. Tuổi trẻ, chỉ vì chút tự ái nho nhỏ, họ đã chia tay. Chị lấy chồng, anh lấy vợ. Nay anh có dịp đi công tác qua thành phố quê hương chị và ghé thăm chị.</p>
<p>Dù đã 15 năm trôi qua, chị vẫn nhận ngay ra anh. Anh hơi mập nhưng vẫn rất đẹp trai. “Em còn đẹp hơn xưa đấy!” Anh cũng đắm đuối nhìn chị. Họ dạo bước trên công viên cạnh biển. Gió mơn man tóc và những tia nắng cuối chiều nhảy nhót trên vai áo. Rồi họ đón taxi và ngồi bên nhau. Anh nhè nhẹ nắm bàn tay chị, bàn tay chị im lặng nằm gọn trong tay anh  nhưng đôi vai nhỏ thì run rẩy xúc động. Từng đôi trai gái chở nhau bằng xe máy vụt qua, chị thầm thì: </p>
<p>- Anh  nhớ ngày xưa anh đã từng chở em bằng xe đạp suốt 120 cây số từ Sài gòn về nhà em không? Thế mà về đến nơi, ăn cơm xong, mẹ em nhất quyết không cho ngủ nhờ nhỉ…</p>
<p>Anh bật cười:</p>
<p>- À, ừ. Ngày ấy điên thật!</p>
<p>Chị hơi sững. Anh bảo taxi ghé vào khách sạn sang nhất Thành phố biển. Anh đặt bàn ăn với đôi nến trắng, hoa hồng và rượu Sâmbanh. Họ dùng bữa tối, chuyện trò và cụng ly như trong xinê. Anh say, chị cũng bắt đầu say. Chiếc đầm đen cổ trễ khiến chị càng quyến rũ.</p>
<p>Anh dìu chị lên căn phòng hạng nhất, nơi có những rèm cửa lãng mạn và ánh sáng mờ ảo dìu dịu hắt từ chiếc chao đèn sang trọng. Anh ôm  vòng eo thon thả của chị, chị gục đầu vào vai anh. Bỗng dưng mùi nước hoa sành điệu từ anh làm chị khựng lại, ký ức chợt ùa về mùi mồ hôi hăng hắc giữa trời nắng của anh khi gò lưng chở cô bạn gái 15 năm trước, mùi đàn ông quyến rũ… <a rel="attachment wp-att-5374" href="http://nguyentrongtao.org/vu-thanh-hoa-ky-%e1%bb%a9c-b%e1%ba%a5t-nha.xml/caravell1"><img class="alignright size-full wp-image-5374" title="caravell1" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/09/caravell1.jpg" alt="" width="290" height="174" /></a>Bàn tay anh dịu dàng, thành thạo ve vuốt chị lại làm chị liên tưởng cũng bàn tay ấy ngày xưa run rẩy, lóng ngóng, vụng về… Khi anh cúi mái tóc chải óng mượt xuống chị, chiếc áo sơmi đắt tiền đang được anh cẩn thận mở từng chiếc cúc thì ký ức lại một lần nữa đưa chị về với mái tóc quăn quăn và cử chỉ nồng nhiệt cởi phăng chiếc áo phông bạc màu ngày nào của chàng sinh viên… Ký ức  làm chị tỉnh hẳn rượu, chị thấy chân tay mình lạnh toát…</p>
<p>-  Em xin lỗi nhưng em không thể…</p>
<p>Chị ngồi bật dậy, kéo lại váy. </p>
<p>-  Có chuyện gì vậy? Anh xúc phạm em chăng? Anh ngạc nhiên. Chị bối rối lắc đầu. Ký ức thật bất nhã.</p>
<p>- Em không còn yêu anh nữa! &#8211;  Anh nói giận dỗi.</p>
<p>- Tha lỗi cho em- Chị rút bàn tay khỏi tay anh, nước mắt lăn trên má – Tình yêu vẫn nguyên vẹn nhưng là anh của ngày xưa…</p>
<p>Rồi chị chạy vội khỏi căn phòng khách sạn.</p>
<p><em>10.7.2007</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/vu-thanh-hoa-ky-%e1%bb%a9c-b%e1%ba%a5t-nha.xml/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>THƠ HUỲNH THÚY KIỀU</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/th%c6%a1-hu%e1%bb%b3nh-thuy-ki%e1%bb%81u.xml</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/th%c6%a1-hu%e1%bb%b3nh-thuy-ki%e1%bb%81u.xml#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 03 Sep 2010 22:07:28 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thơ]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ Việt]]></category>
		<category><![CDATA[HUỲNH THÚY KIỀU]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=5362</guid>
		<description><![CDATA[ 


Huỳnh Thúy Kiều, sinh năm 1978, tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Hiện làm việc tại Nhà xuất bản Phương Đông, TP. Cà Mau. 

- Giải Nhì cuộc thi trên web thơ trẻ.com lần thứ nhất năm 2007.
- Giải thưởng của UB toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT VN dành cho tác giả trẻ [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><strong><span style="color: #0000ff;"> </span></strong></div>
<div><strong><span style="color: #0000ff;"></span></strong></div>
<p><strong><span style="color: #0000ff;"></p>
<div id="attachment_5363" class="wp-caption alignleft" style="width: 193px"><a rel="attachment wp-att-5363" href="http://nguyentrongtao.org/th%c6%a1-hu%e1%bb%b3nh-thuy-ki%e1%bb%81u.xml/huynhthuykieu3"><img class="size-full wp-image-5363" title="huynhthuykieu3" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/09/huynhthuykieu3.jpg" alt="" width="183" height="275" /></a><p class="wp-caption-text">Nhà thơ Huỳnh Thúy Kiều</p></div>
<p>Huỳnh Thúy Kiều, sinh năm 1978, tại huyện Trần Văn Thời, tỉnh Cà Mau. Hiện làm việc tại Nhà xuất bản Phương Đông, TP. Cà Mau. </p>
<p></span></strong></p>
<p><strong><span style="color: #0000ff;">- Giải Nhì cuộc thi trên web <em>thơ trẻ.com</em> lần thứ nhất năm 2007.</span></strong></p>
<p><strong><span style="color: #0000ff;">- Giải thưởng của UB toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT VN dành cho tác giả trẻ năm 2009 với tập thơ Kiều Mây</span></strong></p>
<p><strong><span style="color: #0000ff;">- Giải C cuộc thi thơ năm 2008-2009 của Tạp chí Văn nghệ Quân đội</span></strong></p>
<p><strong><span style="color: #0000ff;"> </span></strong><strong><span style="color: #0000ff;">- Đã in thơ:  KIỀU MÂY, nxb Văn học, H.2008; GIẤU ANH VÀO CỎ XANH, nxb Văn học, H.2010. </span></strong></p>
<p><em> </em></p>
<h2><span style="color: #ff6600;">THƠ HUỲNH THÚY KIỀU</span></h2>
<h3><span style="color: #993300;"><br />
Tin nhắn, đêm hoang và bầy ngựa</span></h3>
<p><strong><em>                                                          </em></strong></p>
<p><em>tin nhắn gấp gấp lao đi lúc chưa kịp liệt kê hết vô chừng ý tưởng</em></p>
<p><em>( sợ anh buồn khi em chậm reply )</em></p>
<p><em>ngày dỗi hờn đẫm hương hoa hoàng hậu nũng giêng hai gọi nhớ</em></p>
<p><em>đêm dài như khoảng cách chúng mình xa </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>kéo tấm màn che giáo điều bị phủ kín trước hôm qua</em></p>
<p><em>dự định bắt đầu giẫm chân lên nhau chạy vội</em></p>
<p><em>cả vườn xuân và mùa cỏ</em></p>
<p><em>mơn man xanh</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>tuốt màu nắng</em></p>
<p><em>lá gió vàng sắc rỗng</em></p>
<p><em>vùng rêu tàn</em></p>
<p><em>mau thức dậy mới vùng rêu</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>bỗng một ngày em nhận ra từng đợt dư chấn nhớ chuyển động </em></p>
<p><em>trăng suông giẫy giụa</em></p>
<p><em>phát tiết nỗi buồn</em></p>
<p><em>vỡ triệu tế bào cảm xúc </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>thả những tin nhắn không định hướng lên bầu trời</em></p>
<p><em>như bầy ngựa không dây cương</em></p>
<p><em>đêm hoang</em></p>
<p><em>thời gian ngưng chảy</em></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<h3><span style="color: #993300;">Đi tìm dấu cỏ</span></h3>
<p><strong><em>             </em></strong><strong><em> </em></strong></p>
<p><em>thế giới bó hẹp trong chiếc giày bỏ bên vệ đường </em></p>
<p><em>ngày xưa đi tìm dấu cỏ</em></p>
<p><em>bờ đê chắn ngang dòng mặn ngọt</em></p>
<p><em>nước mắt tràn như thủy triều dâng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>nắng hoang dã đựng trời xanh quẫy gió</em></p>
<p><em>đêm trên cành rằm non rơi xuống vỡ ấu thơ</em></p>
<p><em>hoàng hôn núp chiều gọi về hương cổ tích</em></p>
<p><em>nhuốm giấc mơ vàng ngôi sao bơi dạo giữa vòm mây</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>loay hoay đi tìm dấu cỏ </em></p>
<p><em>bất ngờ giác quan mở cửa thu về sự giàu có bên ngoài </em></p>
<p><em>ý nghĩ giản đơn của ngày bắt đầu tập sự </em></p>
<p><em>khoảng cách trở lại cánh đồng dần xa</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>gặm loang lổ bầu trời để thấy mình rộng lớn</em></p>
<p><em>dấu cỏ ngày xưa khó tìm hơn lông ngỗng</em></p>
<p><em>buồng phổi ô nhiễm khói bụi đốt rừng &amp; khí thải kẹt xe</em></p>
<p><em>hít thở sự trong lành. Biết tìm đâu ra dấu cỏ ?</em></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><em> </em></p>
<h3><span style="color: #993300;">Buổi chiều thưa gió</span></h3>
<p><strong><em> </em></strong><em> </em></p>
<p><em>Dẫn dụ buổi chiều</em></p>
<p><em>Treo ngược thời gian lên vách</em></p>
<p><em>Tuổi hai mươi vỡ giọng cười giòn</em></p>
<p><em>Đừng chết đuối bên đường cây hoa cải</em></p>
<p><em>Nửa luống trổ ngồng nửa luống vàng rọi mùa sau</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Bẻ hạt gió đốt hoàng hôn xám khói</em></p>
<p><em>Soi gương ngày thềm lá rụng bả trăng non</em></p>
<p><em>Ta chới với xin đời độ lượng</em></p>
<p><em>Con ve sầu chớm hạ đợi băng tan</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Từng sợi gió mỏi mòn từng sợi gió</em></p>
<p><em>Buổi chiều thưa</em></p>
<p><em>Ám ảnh câu thơ trúc trắc không vần</em></p>
<p><em>Nuôi ký ức</em></p>
<p><em>Buồn về qua bậu cửa</em></p>
<p><em>Nêm vào cô đơn mùi âm thanh của những bộn bề</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Đừng thả sóng trên đồi hoa thiếu nữ</em></p>
<p><em>Vườn hoang say tắm nắng nghẹn lời</em></p>
<p><em>Mơ loang dấu môi mềm thơm hương cỏ</em></p>
<p><em>Rỗng buổi chiều mặc sức gió cài then </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/th%c6%a1-hu%e1%bb%b3nh-thuy-ki%e1%bb%81u.xml/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Phát chán vì phải nghe nghệ sĩ nói xấu nhau</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/phat-chan-vi-ph%e1%ba%a3i-nghe-ngh%e1%bb%87-si-noi-x%e1%ba%a5u-nhau.xml</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/phat-chan-vi-ph%e1%ba%a3i-nghe-ngh%e1%bb%87-si-noi-x%e1%ba%a5u-nhau.xml#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 03 Sep 2010 06:14:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Báo chí]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Sơn Hà]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=5355</guid>
		<description><![CDATA[VNN: Showbiz Việt những tháng qua có những ồn ào không đáng. Ai được, ai mất có lẽ chỉ những người trong cuộc mới hiểu rõ nhất. Nhưng điều đáng nói là qua những chuyện được phơi bày, vấn đề cư xử của một số người làm nghệ thuật vô tình trở thành dấu lặng buồn trong lòng [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #0000ff;">VNN: Showbiz Việt những tháng qua có những ồn ào không đáng. Ai được, ai mất có lẽ chỉ những người trong cuộc mới hiểu rõ nhất. Nhưng điều đáng nói là qua những chuyện được phơi bày, vấn đề cư xử của một số người làm nghệ thuật vô tình trở thành dấu lặng buồn trong lòng công chúng&#8230;. </span></strong></p>
<p><span style="font-size: x-small;"><strong>&#8220;Kể tội&#8221; đối phương là &#8220;vạch tội&#8221; chính mình!</strong> <br />
</span></p>
<div><span style="font-size: x-small;"></span></div>
<p><span style="font-size: x-small;"></p>
<div id="attachment_5356" class="wp-caption alignleft" style="width: 310px"><a rel="attachment wp-att-5356" href="http://nguyentrongtao.org/phat-chan-vi-ph%e1%ba%a3i-nghe-ngh%e1%bb%87-si-noi-x%e1%ba%a5u-nhau.xml/thuytien"><img class="size-medium wp-image-5356" title="thuytien" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/09/thuytien-300x168.jpg" alt="" width="300" height="168" /></a><p class="wp-caption-text">Ưng Hoàng Phúc và Thủy Tiên</p></div>
<div><span style="font-size: x-small;"> </span></div>
<p><span style="font-size: x-small;"></p>
<p style="text-align: justify;">Cách đây nhiều năm chuyện “cô nàng lắm chiêu” Mai Khôi đăng đàn nói xấu, kể tội nhạc sĩ Đức Huy khi chuyện tình không giới hạn tuổi tác của họ chấm dứt, đã khiến dư luận không khỏi buồn về cách hành xử của nghệ sỹ.</p>
<p> </p>
<p></span></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="font-size: x-small;">Sau này, lùm xùm hơn là chuyện cặp uyên ương trong mơ của làng điện ảnh Việt, Quang Hải &#8211; Hải Yến “đứt gánh giữa đường”. Lẽ ra, việc chia tay của hai người cũng bình thường nếu như cả hai không thi nhau lên báo trần tình, cãi vã.</span></p>
<p><span style="font-size: x-small;">Gần đây, nam ca sĩ Ưng Hoàng Phúc cũng được dịp &#8220;phang&#8221; người tình cũ &#8211; ca sĩ Thủy Tiên bằng việc tiết lộ ê kíp của Thủy Tiên từng chủ động đề nghị anh làm scandal để gây chú ý. Quá bức xúc Thủy Tiên không những đáp trả bằng những lời &#8220;miệt thị&#8221; mà còn tung ngay bộ ảnh bán khoả thân chụp cùng người yêu mới &#8211; cầu thủ Công Vinh ra khoe với bàn dân thiên hạ khiến không ít khán giả xem xong phải lấy tay che mặt. </span></p>
<p><span style="font-size: x-small;">Tiếp đó là việc ca sĩ Tuấn Hưng lên báo trách móc siêu mẫu Vũ Thu Phương lạm dụng chuyện tình cảm với anh để đánh bóng tên tuổi. &#8220;Tôi muốn từ chối nụ hôn (trong vở nhạc kịch Phantom of the Opera) nghiệt ngã đó nhưng vào tình thế bắt buộc phải chấp nhận. Lần đầu tiên tôi cảm thấy không vui bởi những gì Phương đã tâm sự chỉ dùng để làm hot tên tuổi của cô ấy hơn&#8221; &#8211; Tuấn Hưng trần tình.</span></p>
<p><span style="font-size: x-small;">Không chỉ các anh chàng muốn vạch tội người tình mà ngay cả các bà vợ cũng &#8220;nổi cơn thịnh nộ&#8221; kể tội những ông chồng cũ nổi tiếng. Gây xôn xao là chuyện &#8220;diễm cuối của Trịnh Công Sơn&#8221; &#8211; Hoàng Anh vạch trần thói lăng nhăng của chồng cũ Huy Khánh. Tiếp đến diễn viên Kim Hiền uất ức kể về sự hận thù cùng sự tự tin, niềm lạc quan của người phụ nữ bị chồng phản bội. Thậm chí người phụ nữ (đã ly dị 7 năm) của nhạc sĩ Quốc Bảo cũng chua chát kể về những đau khổ trong việc tranh chấp giành quyền nuôi con cùng những bực bội giấu trong lòng trong những năm tháng qua&#8230;</span></p>
<p><span style="font-size: x-small;">Ai đã làm cho một người hết yêu một người? Kẻ thứ ba xuất sắc hơn hay chính người trong cuộc không biết giữ gìn tình yêu đã từng thuộc về mình? Những đứa con sẽ nghĩ thế nào khi mẹ &#8220;vạch áo cho người xem lưng&#8221; những tật xấu của bố chúng?&#8230; Đó là những câu hỏi mà không ít khán giả đã đặt ra cho những bà vợ sau khi đọc những chia sẻ có phần&#8230; đớn đau của họ trên mặt báo. </span></p>
<p><span style="font-size: x-small;"><strong>&#8220;Im lặng&#8221; có là giải pháp&#8230; khôn ngoan?</strong></span></p>
<p><span style="font-size: x-small;">Vẫn biết trong mỗi cuộc chia tay, trong mỗi &#8220;sự cố&#8221; xảy ra lỗi không hoàn toàn thuộc về ai. Và một khi tình yêu đã hết, khi sự bực bội dâng lên đến đỉnh điểm thì mỗi người đều tự tìm được lý do để biện hộ cho bản thân. Nhưng nói gì, nói như thế nào, lúc nào là hợp lý là một cả một nghệ thuật mà không phải ai cũng đủ sự sáng suốt để nhận ra. Đâu nhất thiết cứ lên báo rùm beng mới chứng tỏ mình là người đàng hoàng?&#8230; </span></p>
<p><span style="font-size: x-small;">Trên thực tế, có những nghệ sĩ khôn ngoan, biết giữ sự bình tĩnh đúng lúc để đối diện với những rắc rối. Điển hình là trường hợp diễn viên Jonny Trí Nguyễn. Mặc dù bị Cathy lên tiếng về việc bỏ rơi vợ con khi có người mới nhưng Jonny vẫn giữ cho mình thái độ điềm đạm, không dành những lời những phát ngôn chẳng mấy tốt đẹp cho vợ cũ. </span></p>
<p><span style="font-size: x-small;">Hay như việc hoa hậu Nguyễn Thị Huyền, diễn viên Việt Anh, ca sĩ Khánh Linh, diễn viên Công Lý, ca sĩ Quang Dũng, ca sĩ Ngọc Anh, ca sĩ Phương Thảo&#8230; thời gian qua dù phải đối diện với thông tin rạn nứt trong hôn nhân nhưng cũng có ứng xử đúng mực, khôn ngoan. Phải chăng họ rút ra được bài học từ nhiều nghệ sĩ do vô tình hoặc cố ý chia sẻ chuyện riêng tư để rồi nhận lấy những bàn tán, những ê chề&#8230;</span></p>
<ul>
<li>
<div><span style="font-size: x-small;"><strong>Sơn Hà (nguồn VNN)</strong></span></div>
</li>
</ul>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/phat-chan-vi-ph%e1%ba%a3i-nghe-ngh%e1%bb%87-si-noi-x%e1%ba%a5u-nhau.xml/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>THƠ MANG MÙI BÙN ĐẤT</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/th%c6%a1-mang-mui-bun-d%e1%ba%a5t.xml</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/th%c6%a1-mang-mui-bun-d%e1%ba%a5t.xml#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 03 Sep 2010 02:22:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Phê bình]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[NGÔ MINH]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=5343</guid>
		<description><![CDATA[(Đọc tập thơ KIỀU MÂY của Huỳnh Thúy Kiều, NXB Văn học, 2008)
 


NGÔ MINH

Ngắm tập thơ Kiều Mây của Huỳnh Thúy Kiều từ miền châu thổ Cà Mau gửi tặng, tôi cứ thẫn thờ. Sao lại Kiều Mây ? Cái tựa sách nghe nó như tên một vở cải lương! Nhưng khi đọc đi đọc [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong><em>(Đọc tập thơ KIỀU MÂY của Huỳnh Thúy Kiều, NXB Văn học, 2008)</em></strong></p>
<div><strong><em> </em></strong></div>
<div><strong><em></em></strong></div>
<p><strong><em></p>
<div id="attachment_5342" class="wp-caption alignnone" style="width: 593px"><a rel="attachment wp-att-5342" href="http://nguyentrongtao.org/th%c6%a1-mang-mui-bun-d%e1%ba%a5t.xml/kieumay"><img class="size-large wp-image-5342" title="KIEUMAY" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/09/KIEUMAY-1024x512.jpg" alt="" width="583" height="280" /></a><p class="wp-caption-text">Bìa: Nguyễn Trọng Tạo</p></div>
<p><strong>NGÔ MINH</strong></p>
<p></em></strong></p>
<p>Ngắm tập thơ <strong><em>Kiều Mây</em></strong> của Huỳnh Thúy Kiều từ miền châu thổ Cà Mau gửi tặng, tôi cứ thẫn thờ. Sao lại Kiều Mây ? Cái tựa sách nghe nó như tên một vở cải lương! Nhưng khi đọc đi đọc lại 36 bài thơ , tôi mới nhận ra cái tên sách ấy có lý. <strong>Kiều Mây</strong> là sự bay bổng, là cõi tâm linh của Huỳnh Thúy Kiều<em>. “ </em><em>Nghiêng vạt gió hứng ánh trăng từ đỉnh trời rơi xuống… Thu vào mây bóng kinh thành buốt nụ sao hoa…</em>”; “ Nước mắt sững sờ rơi choáng váng bờ hoang tưởng…”; “ Trăng ngoái đầu say tấm chăn mây”; “ Lẻ bạn tình nước mắt chảy trăng non” … Những câu thơ tôi nhặt  ngẫu hứng ở các bài trong tập thơ  nói lên cái chất <strong><em>Kiều Mây</em></strong> la đà ấy…</p>
<p><em>            <strong>Kiều Mây</strong> </em>là tập thơ mang đến cho người yêu thơ sự thích thú, khoái cảm thực sự. Người đọc bị hút hồn bởi cái tình thơ nồng đượm, sâu thẳm được thể hiện trong những hình tượng thơ đẹp với những câu thơ, chữ thơ rất “quê mùa” mà mới mẻ, hiện đại. Tôi nghĩ, có lẽ đến Huỳnh Thúy Kiều, chất thơ vùng châu thổ Miền Tây mới được gọi tên chăng ?. Miền đồng bằng phì nhiêu mênh mang sông nước lạ lùng cổ tích ấy đã làm nên văn xuôi của Sơn Nam, Đoàn Giỏi, Nguyễn Ngọc Tư…. Và bây giờ đúc nên hồn thơ Huỳnh Thúy Kiều. Vẻ đẹp hồn đất hồn người chân chất miền châu thổ được HTK phát hiện dưới nhiều cách nhìn mới, vừa thật vừa ảo .<em> </em><em>Cửu Long Giang trong thơ Kiều là nỗi lòng người tha hương mở đất : Ngẫu   hứng chín dòng sông  tiếng gà rải giọng  tha phương/ Máu Cửu Long   đỏ quặn lòng chảy mềm   dấu chân chim  mắt mẹ ( <strong>Ngẫu hứng chín dòng sông</strong>). </em><em>Nghĩ về  phù sa mà dùng hình tượng “ Máu”</em><em> là rất mới và rất ám ảnh. Hay</em><em> “ Cá trê nấu với dây tơ hồng/ Ăn để về khóc đầm lưng áo mẹ”…</em>Câu thơ dung dị mà sâu thẳm<em>. </em>Cái món “cá trê nấu với dây tơ hồng” rất Nam Bộ ấy là tâm linh một vùng đất. Chữ “khóc đầm” rất đắc địa tạo ra hình hài nỗi nhớ, hình hài tình yêu .</p>
<p><em>          </em>Đọc thơ HTK ta như lạc vào tâm thức miền châu thổ mênh mang , phóng túng, ắp đầy mà quặn thắt ký ức<em>: “ Nồi canh rau tập tàng/Vị cua nêm hương ngọt/ Lùa chén cơm mồ hôi rơi nước mắt”. </em>Cái chất hương hỏa Miền Tây ấy làm nên da thịt hồn vía thơ Kiều, làm lay động tâm can người đọc<em> : Bên luống cày mồ hôi cha rớt hạt/ Lấm láp mầm xanh/ Nhọc nhằn bùn đất <strong>( Quê hương)</strong>…</em><em> Đồng ngửa cổ </em>/ <em>Ào ào cơn ngực sấm </em>/ <em>Dẫm cuồng phong </em>/ <em>Vác cuốc bửa màu chiều.</em><em> / </em><em>Con dế nhủi khóc đêm thanh vắng </em>/ <em>Lẻ bạn tình nước mắt chảy trăng non</em> <em><strong>(Nói với quê hương)</strong></em>. Những sản vật Nam Bộ trong thơ Huỳnh Thúy Kiều như bông điên điển, cá lìm kìm ,bìm bịp, sợi khói rơm, trái bần, bông bí, đàn cò co chân, hoa mù u, trái giác nấu canh chua, nhịp cầu tre&#8230; không chỉ là sự tái hiện mà chính là biểu trưng của tình đất, là cái còn lại của đời người. Những hình ảnh như cổ tích ấy khi đứng vào đội hình thơ chúng sẽ thành lửa, thành bão xoáy lòng  :</p>
<p><em>                      Muốn quên đồng bằng. Dễ đâu quên được ? </em></p>
<p><em>                      Màu ký ức cứ xoè ra như bàn tay năm ngón </em></p>
<p><em>                      Đây bếp lửa thơm mùi tro bánh tét </em></p>
<p><em>                      Mắm sặc kho bông súng chấm trưa nồng </em></p>
<p><em>                      Nợ khói ụn dừa buổi sớm lạnh đông</em></p>
<p><em>                      Nợ dọc đời người đau đáu chốn cưu mang …</em></p>
<p><strong><em>                                                         ( Mắc nợ đồng bằng) </em></strong></p>
<p><em>Màu ký ức cứ xoè ra như bàn tay năm ngón </em>là hình tượng thơ mới mẻ, chưa từng có trong thơ Việt. Hãy đọc thêm vài câu thơ  nóng rãy nữa trong <strong>Kiều Mây</strong> để hiểu thêm giọng thơ đa mang nồng đượm của cây bút nữ Cà Mau này<em> : Con dế nhủi khóc đêm thanh vắng/Lẻ bạn tình nước mắt chảy trăng non&#8230;; Cá lìm kìm rượt nhau xé dòng vọng tưởng / Châu  thổ buồn thèm vực khúc đỗ quyên ;…Ngói mái đình lợp kín ấu thơ em / Rêu mốc câu nghĩa nhân ngày hôm qua bà gởi / Con đom đóm niết lòng bay quanh vạt lau ,  bụi sậy / Thả chéo khăn ru đất khóc vùi ….Dây bìm bìm rướn leo bám chặt / Nợ cả đời ta ngọn khói bếp len chiều…/ Sông đã giữa giùm ta bao nhiêu nước mắt ?/ Rửa trôi xuôi hơi phố xá lạnh lùng… </em>Thơ ấy là thơ thốt lên, thơ bật ra tự đáy lòng trắc ẩn<em>.</em><em> </em></p>
<p>Huỳnh Thúy Kiều có bài thơ<em> <strong>&#8220;<em><a href="http://diendan.thotre.com/index.php?showtopic=7606">Hơi thở tôi mang mùi bùn đất</a></em>&#8220;</strong> </em>đoạt giải nhì <a href="http://nguyentrongtao.org/wp-admin/cuộc%20thi%20thơ online">cuộc thi thơ online</a> của wesite: <a href="http://www.thotre.com/%202007.%20Theo">http://www.thotre.com/ 2007. Theo</a> tôi đây là một trong những bài thơ hay nhất trong tập<em> <strong>Kiều Mây</strong> . </em>Âm hưởng bài thơ là sự hoài niệm về cha ông thuở đi mở cõi<em> : Sực nức cánh đồng mùi khói rạ rơm / Mùa đìa cạn cá tung lên hứng khởi / Tôi được sinh ra nơi đất rừng huyền thoại / Đêm Phương Nam buồn / Phím nhạc cũng chùn rơi…</em>Những câu thơ vừa cụ thể vừa khái quát, vừa gần gũi vừa xa xôi ấy như là hơi thở hổn hển của lịch sử .<em> </em><em>Hơi thở tôi mang mùi bùn đất</em> là tứ thơ đẹp, độc đáo, mang tính hàm chứa cao nói về tình đất tình người châu thổ. Đây cũng chính là hồn thơ Huỳnh Thúy Kiều trong tập<em> <strong>Kiều Mây.</strong>  </em></p>
<p><em>   </em>Mấy năm nay tôi đọc rất nhiều thơ trẻ. Có nhiều nhà thơ  trẻ rất chú trọng cách tân  chữ nghĩa, cấu trúc câu thơ,  rất nhiều ý tưởng thơ bạo liệt, không ngại các vùng<em> </em>“cấm kỵ”<em> . </em>Nhưng dường như thơ trẻ ít “đọng lại” trong lòng người đọc.  <strong><a href="http://www.thotre.com/index.php?menu=detail&amp;mid=48&amp;nid=1450"><strong>Huỳnh Thúy Kiều</strong></a></strong>  là nhà thơ thế hệ 7X, nhưng thơ chị không giống với các nhà thơ trẻ khác. Thơ chị rất hiện đại trong câu chữ, cấu trúc , đa phần là thơ tượng trưng, nhưng lại gần gũi thiên nhiên, phong tục, lời nói,  gắn bó mật thiết với con người và cuộc sống vùng đất Tây Nam Bộ, đọc là say, là nhớ.<em> </em>Huỳnh Thúy Kiều làm thơ từ năm 18 tuổi . Chị đã có thơ in chung trong tập  thơ<em> Những vần thơ nghịch ngợm  ( </em>nhiều tác giả<em> &#8211; 1998 ) </em>và tập thơ<em>  Một thoáng U Minh  ( </em>nhiều tác giả<em> &#8211; 2000 ). </em>Nhưng từ năm 2007 đến nay, chị mới được sự chú ý của bạn đọc bằng những bài thơ độc đáo về hình tượng và sự cách tân mạnh mẽ về cấu trúc, ngôn ngữ. Câu thơ của  HTK không câu nệ vần vè, số chữ  mà phóng khoáng rộng mở như sông nước Cửu Long Giang. Mỗi câu thơ Huỳnh Thúy Kiều đều là câu cảm. Câu thơ không sa vào tả, mà ngắt nhịp , tạo chữ đột ngột, tạo nên khoảng mờ nhòe đa nghĩa, lung linh . Ví dụ câu thơ trong bài<em> </em><em><strong>Và em, một mình..</strong> : </em> <em>Ánh lửa hoang ròng mắt ướt thổn khóc buổi hẹn hò </em>là câu thơ hiện đại, rất nhiều tầng nghĩa nhờ sử dụng liên tục các động từ<em> ướt, thổn, khóc… </em><em>làm cho câu thơ có tính tạo hình, mạch thơ gập ghềnh, đứt đoạn, lay động, biến ảo. </em><em>Hay đoạn thơ  Điệu đàn đáy sinh nụ môi bí ẩn đời khát vọng / Dắt díu màu em / Anh ngắt đứt khúc ưu phiền ươm ngọc bích nhớ thương trên ngực </em><em>/ </em><em>Vương quốc bình minh thức dậy rụng tiếng cười.</em><em> </em><em><strong>(Dắt díu màu em</strong></em><em><strong>)</strong></em><em> vừa có nhạc, có họa, vừa thực, vừa huyền ảo làm nên sự hấp dẫn, thích thú với người đọc. </em><em>Cách cấu trúc câu thơ như thế tạo nên sự mới lạ trẻ trung về cả nội dung lẫn hình thức mà không cầu kỳ, khó hiểu. Huỳnh Thúy Kiều sáng tạo nhiều chữ thơ lạ như :</em><em> lợp kín ấu thơ,</em><em> quằn quật, vắt ngõ, ngực thu, nước mắt chảy trăng non, </em> đom đóm niết lòng, gặt xong mùa bão táp, gặt đầu ngày nhan sắc…Những chữ lạ  như thế làm cho câu thơ như lung lay, cựa quậy.<em> </em></p>
<p><em><strong>Kiều Mây</strong> </em><em>là tình yêu quê hương hòa quyện tình yêu đôi lứa, nồng nàn và lan tỏa. Thơ tình Huỳnh Thúy Kiều luôn <strong>“Cháy hết</strong> <strong>nỗi mình”</strong> với những câu thơ tượng trưng sống động : Hạt giống anh gieo đang cựa quậy rất khẽ từng tế bào cảm xúc ; Trăng lưỡi liềm khuyết giữa xác xơ em; Hôm vào lòng bàn tay cho đỡ nhớ…Tôi nhận ra mênh mang chất “sex”, sự “hoan lạc” ( chữ của Nguyễn Trọng Tạo) , phồn thực trong thơ  Huỳnh Thúy Kiều. Sự phồn thực ấy là chất men làm cho câu thơ luôn nóng  . Nhưng nếu  quá trớn sẽ thành dung tục, phản thơ. Huỳnh Thúy Kiều mãnh liệt nhưng kín đáo: Mây nhan sắc bừng bừng khoe ngực nõn… Vô tình mây phơi xiêm y vắt ngõ / Sắc hồng trần cởi khuy áo ngực sương/… Sợi tơ loang em hứng đỉnh phím tràn… Hạt giống anh gieo đang cựa quậy rất khẽ từng tế bào cảm xúc / Biển hồi sinh hay em hồi sinh / Ngực thu hờn tuột cúc…</em><em> </em></p>
<p><strong><em>Kiều Mây</em></strong><em>  </em>không chỉ là thơ hồn quê, tình người. <strong><em>Kiều Mây</em></strong> còn có nỗi đau lịch sử, nỗi đau nhân thế. Đó là nỗi đau chiến tranh còn hằn trên da thịt quê hương <em>: Mảnh pháo chiến tranh vắt ngang thân cây gòn mồ côi bám đất; Dừa lồi lõm vết chiến tranh còn sót nhức…</em>Nên nhà thơ luôn hỏi<em> : Sông đã giữ giùm ta bao nhiêu nước mắt? </em>Đó là nỗi lo mất dần những nét quê chân chất<em> : Trò chơi dân gian bật tăm bóng dáng / Chú dế than buồn nghẹo cổ gãi râu.</em><em> </em>Đó là thân phận thương hồ <em>: Hết cuộc trăm năm / Treo mộ phần vào ngao ngán lãng du. </em>Đó là<em> : Tượng đài đắp móng từ lồng ngực / Gió một chiều có thổi mát được nỗi đau ? </em>Những cảm thức nhân văn ấy trong thơ Huỳnh Thúy Kiều tuy chưa nhiều, nhưng nó báo hiệu về một cây bút thơ tài năng được bạn đọc cả nước yêu mến trong tương lai. Tuy nhiên trong tập <strong>Kiều Mây </strong>có một số hình ảnh trùng lặp như “ngực”, “cúc áo”, cũng có một số bài thơ giống nhau về cấu trúc tạo ra sự đơn điệu khi đọc<em>. </em>Nhưng đây chỉ mới là tập thơ đầu tay. Con đường thơ của Huỳnh Thúy Kiều còn dài phía trước<em>…</em></p>
<p>Tôi đã về Cà Mau, đã đi, đã ăn nằm, hít thở mùi bùn đất dọc ngang miền châu thổ.<em> </em>Đọc <strong><em>Kiều Mây</em></strong><em> </em>của Huỳnh Thúy Kiều tôi như được trở lại miên man với miền đất hứa Cửu Long Giang<em>…</em></p>
<p><strong><em>Huế, cuối năm 2008</em></strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/th%c6%a1-mang-mui-bun-d%e1%ba%a5t.xml/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Ảnh Nguyễn Đình Toán: HÀ LINH</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/%e1%ba%a3nh-nguy%e1%bb%85n-dinh-toan-ha-linh.xml</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/%e1%ba%a3nh-nguy%e1%bb%85n-dinh-toan-ha-linh.xml#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 03 Sep 2010 00:26:15 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chung]]></category>
		<category><![CDATA[Mỹ thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Tiêu điểm]]></category>
		<category><![CDATA[Ảnh]]></category>
		<category><![CDATA[NGUYỄN ĐÌNH TOÁN]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=5332</guid>
		<description><![CDATA[ẢNH NGUYỄN ĐÌNH TOÁN
Ghi dấu ấn đầu tiên trong con đường âm nhạc của mình bằng dòng nhạc dân gian đương đại, Hà Linh trở thành một đối thủ bất bại khi giành về giải Nhất Sao mai 2006.
Hà Linh tâm sự: &#8220;Hồi bé Linh rất ghét hát, lớp 2 còn trốn dưới gầm bàn [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>ẢNH NGUYỄN ĐÌNH TOÁN</strong></p>
<p><strong>Ghi dấu ấn đầu tiên trong con đường âm nhạc của mình bằng dòng nhạc dân gian đương đại, Hà Linh trở thành một đối thủ bất bại khi giành về giải Nhất Sao mai 2006.</strong></p>
<p><strong>Hà Linh tâm sự: &#8220;Hồi bé Linh rất ghét hát, lớp 2 còn trốn dưới gầm bàn để không phải học nhạc. Đến bây giờ mẹ còn mắng vì không biết một nốt nhạc nào. Linh bắt đầu hát từ khi vào trường Ngoại giao từ những hoạt động nho nhỏ như hát cho ngày hội của trường. Về nhà thì cũng có ngâm nga và cũng không thể ngờ đến một ngày mình lại có thể trở thành ca sĩ&#8221;.</strong></p>
<p><a rel="attachment wp-att-5333" href="http://nguyentrongtao.org/%e1%ba%a3nh-nguy%e1%bb%85n-dinh-toan-ha-linh.xml/halinh3"><img class="alignnone size-full wp-image-5333" title="halinh3" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/09/halinh3.jpg" alt="" width="500" height="750" /></a></p>
<p><a rel="attachment wp-att-5334" href="http://nguyentrongtao.org/%e1%ba%a3nh-nguy%e1%bb%85n-dinh-toan-ha-linh.xml/halinh4"><img class="alignnone size-full wp-image-5334" title="halinh4" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/09/halinh4.jpg" alt="" width="500" height="750" /></a></p>
<p><a rel="attachment wp-att-5335" href="http://nguyentrongtao.org/%e1%ba%a3nh-nguy%e1%bb%85n-dinh-toan-ha-linh.xml/halinh2"><img class="alignnone size-full wp-image-5335" title="halinh2" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/09/halinh2.jpg" alt="" width="600" height="400" /></a></p>
<p><a rel="attachment wp-att-5336" href="http://nguyentrongtao.org/%e1%ba%a3nh-nguy%e1%bb%85n-dinh-toan-ha-linh.xml/halinh"><img class="alignnone size-full wp-image-5336" title="halinh" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/09/halinh.jpg" alt="" width="600" height="400" /></a></p>
<h2><span style="color: #993300;">HÀ LINH và ca khúc TÌNH NHÂN</span></h2>
<p>*<object width="480" height="385"><param name="movie" value="http://www.youtube.com/v/IHJ1O7SdJT8?fs=1&amp;hl=en_US"></param><param name="allowFullScreen" value="true"></param><param name="allowscriptaccess" value="always"></param><embed src="http://www.youtube.com/v/IHJ1O7SdJT8?fs=1&amp;hl=en_US" type="application/x-shockwave-flash" allowscriptaccess="always" allowfullscreen="true" width="480" height="385"></embed></object>*</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/%e1%ba%a3nh-nguy%e1%bb%85n-dinh-toan-ha-linh.xml/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>THƠ ĐỖ DOÃN PHƯƠNG</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/th%c6%a1-d%e1%bb%97-doan-ph%c6%b0%c6%a1ng.xml</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/th%c6%a1-d%e1%bb%97-doan-ph%c6%b0%c6%a1ng.xml#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 02 Sep 2010 23:55:17 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thơ]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ Việt]]></category>
		<category><![CDATA[ĐỖ DOÃN PHƯƠNG]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=5327</guid>
		<description><![CDATA[NTT: Đỗ Doãn Phương là một nhà báo, nhưng thơ của anh lại chứa nhiều thi ảnh mang tính biểu tượng &#8220;lắp ráp&#8221; trong một tư duy hiện đại. Nhưng quan trọng hơn là thơ anh mang tới cho người đọc cảm xúc mới về đời sống tưởng quá quen thuộc trong những tứ thơ [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #0000ff;">NTT: Đỗ Doãn Phương là một nhà báo, nhưng thơ của anh lại chứa nhiều thi ảnh mang tính biểu tượng &#8220;lắp ráp&#8221; trong một tư duy hiện đại. Nhưng quan trọng hơn là thơ anh mang tới cho người đọc cảm xúc mới về đời sống tưởng quá quen thuộc trong những tứ thơ độc đáo giàu suy ngẫm. Cám ơn bạn Chu Thị Linh Quang đã gửi tới NTT.ORG chùm thơ này của ĐDP và xin giới thiệu cùng bạn đọc.</span></strong></p>
<p><strong><span style="color: #0000ff;"></p>
<div id="attachment_5328" class="wp-caption alignnone" style="width: 410px"><a rel="attachment wp-att-5328" href="http://nguyentrongtao.org/th%c6%a1-d%e1%bb%97-doan-ph%c6%b0%c6%a1ng.xml/do-doan-phuong-1"><img class="size-full wp-image-5328" title="do-doan-phuong-1" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/09/do-doan-phuong-1.jpg" alt="" width="400" height="300" /></a><p class="wp-caption-text">Đỗ Doãn Phương - Ảnh: Lãng Quân</p></div>
<p></span></strong></p>
<h2><span style="color: #ff6600;">THƠ ĐỖ DOÃN PHƯƠNG</span></h2>
<p><strong><em><span style="color: #993300;">Biến thành cây</span></em></strong><em></em></p>
<p><em><br />
  Biến thành cái cây<br />
 Trong buổi sáng này<br />
 Sau một đêm bạc cả vòm lá<br />
 Tóc giằng khơi tóc biến thành rễ<br />
 Tay giằng khơi tay biến thành cành<br />
 Trái tim chẳng biết để đâu rụng chín vào cơn gió<br />
 Con mắt giờ đây quang hợp bằng ánh sáng trắng<br />
 Và ngửa mãi mãi nhìn bầu trời</p>
<p> Trong buổi sáng này<br />
 Hãy thở từ từ kiểu cây và lộn đầu xuống<br />
 Im lặng như chiếc đinh đóng ngập vào thớ lõi<br />
 Cuộc sống treo lên những túi xách tay</p>
<p> Im lặng nhìn xuống em năm nay năm tới<br />
 Để tất cả trong tiếng thở khẽ  rì rào </em></p>
<p><strong><em><br />
<span style="color: #993300;">Buổi chiều uy nghi</span></em></strong><em></p>
<p> Buổi chiều trên bãi rác ven sông<br />
 Chỉ còn hai màu trắng đen trong ký ức<br />
 Anh ghì mãi ghì mãi vẫn không cảm thấy khuôn ngực em<br />
 Một vòng tay chất đầy sỏi đá</p>
<p> Một buổi chiều trên sông đầy linh cảm<br />
 Như điềm báo, đàn chim sa xuống bay lên<br />
 Buổi chiều gieo bóng đêm vào mặt nước<br />
 Anh trộm ngắm cảnh này sau lưng em</p>
<p> Và sau đó , với em chỉ là những cái hôn<br />
 Những cái hôn không biết chân dung chiều và tương lai đang phác họa</p>
<p> Không biết<br />
Một con tàu khổng lồ đang đến với chúng ta<br />
 Đang cất tiếng gọi và gào thét</p>
<p> Con tàu đang chờ đợi nhưng chúng ta tặc lưỡi<br />
 Và nuốt vào một tiếng kêu khan</p>
<p> Con tàu bỏ đi nhưng chúng ta cứ ngỡ<br />
 Buổi chiều uy nghi trên sông đang sụp đổ</em></p>
<p><em></p>
<p><strong><span style="color: #993300;">Giấc mơ</span></strong></p>
<p> Từ lâu anh vẫn mơ thấy em<br />
 Thanh mảnh , nhỏ bé nhường kia<br />
 Anh không hề biết em có bầu và vừa đẻ</p>
<p> Sinh con vào mùng sáu tháng năm<br />
 Nó giống em hay bố nó ?<br />
 Anh không biết gì hết<br />
 Thân em bé nhỏ đã đâm chồi<br />
 Cái bụng thon của em đã từng khệ nệ , xấu xí<br />
 Cái thân em chẳng còn trong trắng tinh khiết<br />
 &#8230;Vậy mà lạ lùng thay<br />
 Trong giấc mơ anh vẫn chẳng hề thấy thế</p>
<p> Bởi đã ra đi thì là khuất mắt<br />
 Đã buông trôi thì là chết chìm<br />
 Đã vào đời thì là sa xuống<br />
 Đã rời nhau thì là sống lại, chết đi</p>
<p> Ta sống như đã sang kiếp khác<br />
 Chỉ giấc mơ còn trong chính đời này</em></p>
<p><em></p>
<p><strong><span style="color: #993300;">Sau bài hát của cha</span></strong></p>
<p> Cha hát không rõ lời, chỉ nghe giọng người âm ư<br />
 Và tiếng người huýt sáo<br />
 Người đang đi trên miền đất trống không<br />
 Trẻ trung dũng mãnh như con báo<br />
 Mây và mặt nước tối sầm run rẩy<br />
 Như con thú con chờ ve vuốt tay Người<br />
 Cánh rừng bằng phẳng nhô lên tận trời<br />
 Con đường mòn mất cương chạy vào rừng Người không đi nữa<br />
 Và ánh lửa bật lên châm thuốc<br />
 Tia chớp xanh phủ sáng mặt Người</p>
<p> Tĩnh tinh tình, tình tinh tinh tĩnh<br />
 Rừng bốc cháy dưới tán lá xanh đen<br />
 Tính tinh tình tịnh tình tinh tính<br />
 Người đang hát con tưởng Người bén lửa</p>
<p> Con nín thở lại gần và hoảng sợ<br />
 Mặt Người hiện lên nhẫn nhục già nua .</p>
<p></em></p>
<p><em><br />
</em>Rút trong tập thơ “Ánh chớp” &#8211; Đỗ Doãn Phương- NXB Hội Nhà Văn 2007</p>
<p><em> </em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/th%c6%a1-d%e1%bb%97-doan-ph%c6%b0%c6%a1ng.xml/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>CHÚ MÈO CẢNH!</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/chu-meo-c%e1%ba%a3nh.xml</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/chu-meo-c%e1%ba%a3nh.xml#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 02 Sep 2010 23:30:29 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Văn Của Bạn]]></category>
		<category><![CDATA[TRẦN HUY THUẬN]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=5322</guid>
		<description><![CDATA[Tặng các tổ chức, cơ quan chống tham nhũng
TRẦN HUY THUẬN
LỜI DẪN CHUYỆN: &#8220;ĐÁM CƯỚI CHUỘT&#8221; là tên một bức tranh dân gian nổi tiếng, tả cảnh gia đình nhà chú rể chuột phải cử người đem lễ vật đến hối lộ chú mèo, để đám cưới được diễn ra vui vẻ, an toàn! Rõ [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em>Tặng các tổ chức, cơ quan chống tham nhũng</em></p>
<p><strong>TRẦN HUY THUẬN</strong></p>
<p><strong><a rel="attachment wp-att-5323" href="http://nguyentrongtao.org/chu-meo-c%e1%ba%a3nh.xml/meo"><img class="alignleft size-full wp-image-5323" title="meo" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/09/meo.jpg" alt="" width="270" height="187" /></a>LỜI DẪN CHUYỆN: </strong><em>&#8220;ĐÁM CƯỚI CHUỘT&#8221; là tên một bức tranh dân gian nổi tiếng, tả cảnh gia đình nhà chú rể chuột phải cử người đem lễ vật đến hối lộ chú mèo, để đám cưới được diễn ra vui vẻ, an toàn! Rõ ràng đây là câu chuyện hư cấu, chứ chuột nói riêng và động vật nói chung làm gì có tổ chức&#8230; cưới xin, càng không có việc chuột và mèo biết trò HỐI LỘ  và NHẬN HỐI LỘ? Chẳng qua các Cụ ta xưa muốn ÁM CHỈ giống NGƯỜI chúng ta mà thôi!</em></p>
<p><em>Câu chuyện tôi sắp kể dưới đây thì khác. Không hư cấu mà dựa vào sự quan sát thực tế việc nuôi MÈO trong chính gia đình mình. Chú MÈO này hư, không chịu thực thi cái THIÊN CHỨC DIỆT CHUỘT của mình, chỉ vì được người nuôi quá chiều chuộng, nên dần dần đã biến một SÁT THỦ, DŨNG SĨ DIỆT CHUỘT trở thành một CHÚ MÈO CẢNH!</em></p>
<p><em>(THT)</em></p>
<p>Nhà lắm chuột quá! Trước kia chúng còn tránh ban ngày, chỉ hoành hành về đêm. Nay thì “moa-phú”, đêm ngày như nhau, cứ hở ra cái gì là lũ chuột chết tiệt lại ngoáy cái đuôi tởm lợm của nó vào ngay! Người ta bảo: <em>Chó treo, mèo đậy</em>, chứ với giống chuột, các cách ấy chả nghĩa lý gì. Thùng gạo đậy kín hẳn hoi, mà còn bị chúng khoét cả nắp để chui vào ăn thoải mái; nồi thịt treo vào quang sắt, vẫn bị chúng leo lên, nậy vung, khoắng gần hết! Thế thì thử hỏi ai mà chả điên chứ? Không chỉ ăn, lũ khốn kiếp này còn bậy ra khắp nơi; vo gạo thổi cơm mà không chú ý nhặt đãi, có ngày lẫn cả phân chuột là chuyện thường!</p>
<p>Như vậy là đã dùng đủ cách phòng ngừa rồi, nhưng chuột vẫn ngang nhiên hoành hành. Buộc chủ nhà phải tỏ thái độ dứt khoát, nghĩa là quyết định phải vừa phòng, vừa chống; phòng là cần thiết và phải làm thường xuyên, nhưng chống mới là quyết định. Chống tích cực chính là phòng hiệu quả! Nhưng chống bằng cách nào? Bàn luận mãi, cuối cùng gia đình mới đi đến thống nhất: nuôi mèo. Bởi vì các cách khác, đều đã dùng qua, như bẫy lồng, bẫy kẹp, thuốc diệt chuột của ta, thuốc diệt chuột của Tàu; đủ cả mọi biện pháp, biện pháp nào nghe quảng cáo cũng kêu nhưng tựu trung, đều chỉ có tác dụng nhất thời, rồi đâu lại vào đấy. Có cảm giác lũ chuột ngày càng rút được nhiều kinh nghiệm để phòng chống lại các biện pháp phòng chống chuột của con người! Hay cũng có thể nói, càng ngày, chuột ở cái nhà này, càng nhờn với mọi cạm bẫy mà người ta dành cho chúng! Ngay keo dính chuột, thời kỳ đầu, có đêm, một hộp keo dính được tới hai ba chú chuột, kể cả chuột bố, chuột con. Nhưng nay thì chỉ mất mồi toi, chứ chẳng dính được con nào nữa. Thế mới tức chứ! Lồng bắt chuột cũng vô tác dụng. Lần nọ, một con đã bị sập bẫy, chủ nhà thức dậy, nhìn rõ chú chuột kễnh đang lồng lộn ở trong lồng, thế là yên trí trở vào giường ngủ tiếp. Sáng ra, chỉ thấy lồng trống không! Thì ra, nó đã phá lồng sắt, chạy biến mất từ lúc nào rồi (hay là có con chuột khác mò đến phá lồng, cứu &#8220;đồng đội&#8221;?). Người ta nói: “Mèo già hóa cáo”, chứ tôi đồ rằng, chuột sổ lồng mới dễ thành cáo, bởi vì từ ngày đó, cái bẫy lồng, chả lần nào bắt được con chuột nào nữa! Ngay cái bẫy sáng kiến của anh nông dân Trần Quang Thiều – “giáo sư” diệt chuột vùng đồng bằng trung du Bắc bộ (theo v<em>ietnamnet </em>20-3-2005), thấy quảng cáo vừa rẻ, không mất mồi, mà lại hiệu quả cao, nhưng thực tế, cũng chỉ mấy ngày đầu có hai ba con mắc; còn sau đó bẫy vẫn bẫy, mà chuột thì vẫn vô tư hoành hành! Thế có nản không chứ!</p>
<p>Chú mèo được bắt về nuôi từ hai tháng tuổi. Đó là giống mèo tam thể, xinh đáo để! Ngày đầu, chú xa mẹ, lạ nhà nên cứ meo, meo suốt. Chú bé, làm gì đã bắt được chuột, nhưng từ ngày có chú, có tiếng kêu meo, meo, nhà bặt hẳn giống chuột. Chắc nó sợ bóng sợ vía nhà mèo! Mọi người mừng lắm. Ít ngày sau, chú mèo con quen dần môi trường sống mới, bắt đầu tập trèo, tập nhảy, tập vờn chuột, trông hay đáo để! Ai cũng bảo: Chú mèo này lớn lên là hay chuột lắm đấy! Cả nhà kỳ vọng vào chú trong công việc trừ khử lũ chuột hôi thối. Mọi thành viên trong gia đình đều chăm chút cho chú mèo con. Luôn luôn cho chú ăn khi con cá, con tôm, khi miếng thịt, miếng mỡ. Có hôm người này cho ăn, người kia lại cho ăn. Bởi vì trông chú ăn, thích lắm mà cũng còn bởi trong lòng, ai cũng muốn chú mau lớn, khỏe mạnh để đủ sức vồ chuột. Chú mèo lớn trông thấy. Bây giờ đã ra dáng một tiểu hổ rồi! Niềm hy vọng bấy lâu mọi người trông chờ, nay hẳn là sắp thành hiện thực!</p>
<p> Nhưng quái lạ! Sau một số ngày yên ổn không còn nạn chuột gặm nhấm, đục khoét, lục lọi thức ăn, bỗng mấy hôm nay lũ chuột lại quay trở lại. Dấu hiệu là phân chuột có ở khắp nơi, rồi nải chuối trên ban thờ cũng bị khoét một hai quả, xoong nồi bị lục tung cả vung! Thôi chết, đúng là chuột đã trở lại nhà! Thế con mèo đâu? Niềm hy vọng tràn trề bấy nay chả đi đâu cả, chú vẫn nằm đấy, béo tròn, vểnh bộ ria mét vừa dài vừa cong một cách rất khuê các nhìn mọi người, trong lúc ai cũng đang như muốn điên lên vì tức! Thôi đúng rồi, đây chính cống là một chú mèo lười! Có ai đó từng nói: mèo trắng, mèo đen, thế nào cũng được, miễn là bắt được chuột. Đây lại là mèo tam thể, chỉ có mẽ đẹp thôi, còn lười biếng quá! Nó chỉ thích biểu diễn trò vờn chuột cho các cô cậu con chủ nhà xem, chứ không biết rình bắt chuột thật. Mà các cô cậu chủ thích cái trò ấy của mèo lắm, mèo rất biết thế mà!</p>
<p> Mèo lười, tội trước tiên là tại chủ chứ không phải tại mèo! Mèo trắng, mèo đen hay mèo tam thể cũng thế thôi. Chăm sóc nó quá, lúc nào cũng cho ăn, nó không kịp đói bữa này, đã được ăn bữa khác, thức ăn tự đến với nó, nên nó không có khái niệm phải kiếm tìm. Thức ăn của chủ thừa thãi, mèo nghĩ vậy, vì có bao giờ mèo bị bỏ đói đâu? Thế thì việc gì phải gây sự với lũ chuột hôi hám ấy cơ chứ? &#8220;<em>Mi không động đến ta, thì ta cũng không động đến mi!</em>&#8220;- Mèo lý luận thế. Người có lý luận của người, thì mèo cũng có lý luận của mèo chứ?</p>
<p>Và thế là, dần dần, chú mèo lười đã trở thành chú mèo cảnh lúc nào không hay!</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/chu-meo-c%e1%ba%a3nh.xml/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>NHẠC SĨ VÀ HAI ĐOÁ TRÀ MY</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/nh%e1%ba%a1c-si-va-hai-doa-tra-my.xml</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/nh%e1%ba%a1c-si-va-hai-doa-tra-my.xml#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 02 Sep 2010 05:11:36 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chủ bút]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Trọng Tạo]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Âm nhạc]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Thiên Đạo]]></category>
		<category><![CDATA[NGUYỄN TRỌNG TẠO]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=5313</guid>
		<description><![CDATA[NGUYỄN TRỌNG TẠO
Một buổi tối cuối năm Con Gà, tôi may mắn hội ngộ cùng nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo và hai cô gái có tên là Trà My. Nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo sống ở Pháp từ năm 13 tuổi và trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng có tên trong 2 từ điển [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>NGUYỄN TRỌNG TẠO</strong></p>
<div id="attachment_5314" class="wp-caption alignleft" style="width: 250px"><a rel="attachment wp-att-5314" href="http://nguyentrongtao.org/nh%e1%ba%a1c-si-va-hai-doa-tra-my.xml/nguyenthiendao"><img class="size-full wp-image-5314" title="nguyenthiendao" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/09/nguyenthiendao.jpg" alt="" width="240" height="160" /></a><p class="wp-caption-text">Nhạc sĩ Nguyễn Thiện Đạo</p></div>
<p>Một buổi tối cuối năm Con Gà, tôi may mắn hội ngộ cùng nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo và hai cô gái có tên là Trà My. Nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo sống ở Pháp từ năm 13 tuổi và trở thành một nhạc sĩ nổi tiếng có tên trong 2 từ điển danh nhân của phương Tây. Ông là người nhạc sĩ có công trong việc đưa hơi thở phương Đông vào nhạc giao hưởng phương Tây hiện đại với nhiều tác phẩm tầm cỡ như <em>Bất khuất, Mỵ Châu, Sóng hồn</em>, v.v… Những tác phẩm của ông không chỉ trình diễn ở Pháp mà nhiều lần vang lên trên sân khấu giao hưởng Việt Nam, tác động đến cả quan niệm sáng tác của nhiều nhạc sĩ trong nước, và được giới chuyên môn đánh giá cao. Bộ Văn Hoá Thông Tin đã tặng ông Huy chương Chiến sĩ Văn hoá cuối năm 2000, được nhập quốc tịch Việt Nam dù ông vẫn mang quốc tịch Pháp, và được Hội Nhạc sĩ Việt Nam mời làm hội viên của Hội. Nhà thơ nhạc sĩ Nguyễn Thuỵ Kha cũng đã viết một cuốn tiểu thuyết về ông với tựa đề <strong><em>“Nguyễn Thiên Đạo – nhạc sĩ bị trời đày”</em></strong> lấy ý từ cái tên Thiên Đạo (chứ không phải là Thiện Đạo như người ta vẫn quen gọi) có nghĩa là “đạo trời”, và vì ông không thể sống nổi nếu không có âm nhạc. Có thể nói, Nguyễn Thiên Đạo là một “hiện tượng âm nhạc” cuối thế kỷ XX kết hợp hai dòng văn minh Đông – Tây trong những sáng tạo độc đáo và đặc sắc. Đặc biệt là trong những năm gần đây sau nhiều lần về nước, ông thực sự trở về với “sóng hồn” dân tộc. Ông khai thác nhiều chất liệu nhạc Việt và  thổi hồn làm mới tinh thần âm nhạc truyền thống trong tư duy hiện đại “dân tộc và nhân loại”. Những tiếng bầu, tiếng tranh dân tộc không chỉ hoà vào giao hưởng của ông, mà đôi lúc còn vút lên lĩnh xướng như khẳng định sức sống của một thành tố mới của giao hưởng hiện đại Nguyễn Thiên Đạo. Chính vì thế mà “cơ duyên” đã xui âm nhạc của ông se kết cùng hai đoá Trà My giữa lòng Hà Nội.</p>
<p>Vâng, hai đoá Trà My ấy chính là Ngô Trà My và Phạm Trà My. Ngô Trà My đàn bầu và Phạm Trà My đàn tranh. Hai nàng tố nga không chỉ cùng tên mà còn nhiều chữ cùng khác nữa, như một cặp bài trùng hơn hai chục năm nay. Cùng vào học Nhạc viện Hà Nội năm 1983. Cùng khoa nhạc cụ dân tộc. Cùng đặc cách trong ba kỳ thi sơ, trung và đại học, rút ngắn được 3 năm học. Cùng tốt nghiệp hệ đại học năm 1994. Cùng được giữ lại giảng dạy tại Nhạc viện. Cùng làm luận văn Thạc sĩ Nghệ thuật học chuyên ngành giảng dạy âm nhạc (2002-2005). Cùng tham gia hội diễn ca múa nhạc sinh viên toàn quốc và cùng đoạt giải. Cùng sáng tác bản nhạc <em>Bến đợi</em> cho đàn bầu và đàn tranh trình tấu. Cùng diễn chung nhiều chương trình âm nhạc trong và ngoài nước. Và cùng được nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo chọn mặt gửi vàng, mời diễn tấu tác phẩm âm nhạc của ông.</p>
<p>Nhưng My bầu và My tranh đã đến với âm nhạc bằng những lý do khác nhau. My tranh vốn thích đàn tranh từ nhỏ, từ khi trông thấy cô Phương Bảo chơi đàn tranh trên tivi. Bố mẹ cô thấy thế liền nhờ một người bạn ở trường nhạc dạy đàn tranh cho con, và trong một lần “thi thử cho vui”, My đã được nhận ngay vào học hệ sơ &#8211; trung. My bầu thì khác, từ nhỏ chỉ thích vẽ. Nhưng người bố là nhạc sĩ Ngô Quốc Tính muốn hướng nghiệp cho con vào con đường âm nhạc, mà cây đàn bầu là lựa chọn của ông. Ấy thế mà mãi ba lần thi, My mới đỗ đầu vào trường Nhạc.</p>
<p>Phạm Trà My nói với tôi rằng, không phải bây giờ My bầu và My tranh mới tiếp xúc với âm nhạc Nguyễn Thiên Đạo. Mấy năm trước đã được nghe giao hưởng của ông do chính ông chỉ huy dàn nhạc tại Nhà hát Lớn Hà Nội, và còn được nghe ông thụ giáo trên giảng đường Nhạc viện. Sự mới lạ và niềm say mê cách tân âm nhạc của người nhạc sĩ đã truyền thổi vào thế hệ cô một ý thức mới cần bứt phá và vượt thoát. Năm 2002, tiếng đàn bầu và đàn tranh của hai cô đã hiện diện trong nhạc phim <em>Vũ khúc con cò</em> và gần đây là nhạc phim <em>Chuyện của Pao </em>của Nguyễn Thiên Đạo. Đây là những bản nhạc phim có thể trình diễn trên sân khấu giao hưởng với tư cách là một tác phẩm âm nhạc độc lập, chứ không như nhiều nhạc phim vụn nát, chắp nối trong phim ta hiện nay. Trong dịp về nước lần này, nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo đã đưa cho Phạm Trà My bản nhạc <em>Khói sóng</em> viết cho độc tấu đàn tranh dài 10 phút. Theo Phạm Trà My thì đây là một bản nhạc vô cùng mới lạ đối với cô, bởi tác giả đã đưa nhiều yếu tố âm nhạc hiện đại vào cây đàn tranh dân tộc. Có thể là tác giả muốn cây đàn tranh được trổ kỹ thuật nghiêng ngửa với các nhạc cụ phương Tây, chứ không chỉ rung, nhấn, nẩy, vỗ đơn thuần như lâu nay nó vẫn được thể hiện. Đây là một bản nhạc nói lên thân phận con người hay thân phận của cả một dân tộc đầy thăng trầm, buồn vui, dịu dàng và bão tố nhưng luôn luôn khát sống thanh bình và nhân nghĩa. My tranh khâm phục tác giả khi cô chơi thử bản nhạc này và cho rằng, Nguyễn Thiên Đạo là một nhạc sĩ kỳ tài với những kỹ thuật mà cô chưa được tiếp xúc bao giờ. Đặc biệt hơn nữa, ông là một người sống từ nhỏ ở phương Tây lại am tường cây đàn dân tộc đến thế. Tác phẩm của ông bao giờ cũng dành nhiều đất cho nghệ sĩ sáng tạo, kể cả sáng tạo ngẫu hứng theo cảm xúc của riêng mình. Chơi nhạc Nguyễn Thiên Đạo nhiều lúc cảm giác như mình đang “lên đồng” cùng tác giả…</p>
<p>Ngô Trà My cũng cảm nhận ở âm nhạc Nguyễn Thiên Đạo những điều ngoài tưởng tượng của cô. Ngay ở bản nhạc ông viết riêng cho cây đàn bầu mà My diễn tấu mang tên <em>Khói Trương Chi</em> (sau đó thành chủ đề cho vở múa ba lê <em>Sóng nhạc Trương Chi</em> do biên đạo múa Công Nhạc dàn dựng) thì cô không thể ngờ rằng, ông đã khai thác triệt để tính năng của cây đàn một dây mà nghệ sĩ Việt Nam ít có cơ hội sử dụng đến. Cũng với những kỹ thuật bật trầm, tremolo (gảy hai chiều)… nhưng Nguyễn Thiên Đạo đã đẩy kỹ thuật ấy đến kiệt cùng của tinh xảo và rung động, khiến người đàn và người nghe đắm chìm trong không gian âm thanh bất tận. Ngô Trà My kể rằng, khi mới tập bản <em>Khói Trương Chi</em> cô đã không thể chịu đựng được bởi chính những âm thanh lạ mà tác giả đã mang tới cho cây đàn của cô. Lúc đó cô đang mang bầu bốn tháng. Những âm thanh lạ như gào thét từ cây đàn bầu khiến bụng cô bị đau tức. Cả ba lần tập đầu tiên, bụng cô đều bị đau tức như vậy. Tuy rất thích bản nhạc này, nhưng vì sợ ảnh hưởng đến thai nhi nên cô đã tâm sự những suy nghĩ của mình với tác giả, và muốn hẹn ông sẽ tập bản nhạc này vào một dịp khác. Nguyễn Thiên Đạo không lấy làm ngạc nhiên, ông khuyên Trà My nên thay đổi cảm  xúc, không nên đắm chìm sâu quá vào tiếng đàn, và cô đã làm theo ý ông. Quả nhiên bụng không còn bị đau tức nữa, và bản nhạc đã được diễn tấu vô cùng hiệu quả.</p>
<p>Bây giờ nhắc lại những chuyện đó, cả ba người đều cười vui bên ly rượu chia tay.</p>
<p>Nhạc sĩ Nguyễn Thiên Đạo không khỏi cảm động nói rằng, ông không ngờ những nghệ sĩ trong nước lại được đào tạo chuẩn mực như thế. Và quan trọng hơn là những tài năng trẻ vô cùng nhạy bén với âm nhạc hiện đại, có thể tiếp cận được cả những gì tiên tiến nhất của âm nhạc thế giới. Chính vì thế mà ông muốn thực hiện CD âm nhạc mới của mình bởi chính những nghệ sĩ tài năng trong nước, để nói với thế giới rằng, nước ta có thể làm được những gì mà người ta cho là tiên tiến nhất.</p>
<p>Vâng, ước muốn đó của người nhạc sĩ chủ trương <em>dân tộc – nhân loại</em> chắc sẽ được thực hiện khi ông trở lại Việt Nam. Chúng tôi đã nói với Nguyễn Thiên Đạo điều đó khi ông xiết chặt tay hai đoá Trà My đầy lưu luyến trước lúc chia xa trở về phía trời Tây.</p>
<p><em>Hà Nội, Noel 2005</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/nh%e1%ba%a1c-si-va-hai-doa-tra-my.xml/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Đọc thơ Huỳnh Thúy Kiều &#8220;Giấu anh vào cỏ xanh&#8221;</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/d%e1%bb%8dc-th%c6%a1-hu%e1%bb%b3nh-thuy-ki%e1%bb%81u-gi%e1%ba%a5u-anh-vao-c%e1%bb%8f-xanh.xml</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/d%e1%bb%8dc-th%c6%a1-hu%e1%bb%b3nh-thuy-ki%e1%bb%81u-gi%e1%ba%a5u-anh-vao-c%e1%bb%8f-xanh.xml#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 01 Sep 2010 00:26:53 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Phê bình]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[HUỲNH THÚY KIỀU]]></category>
		<category><![CDATA[KHỔNG ĐỨC]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=5303</guid>
		<description><![CDATA[KHỔNG ĐỨC
Đọc thơ là một sự phiêu lưu trong sự đổi mới, một hành vi sáng tạo, sự khởi thủy miên viễn, tái sinh sự ngạc nhiên. Khởi thủy không chỉ là một hành động &#8211; Edward Said  viết &#8211; nó cũng là cái tâm cảnh, một loại công tác, một thái độ, một ý [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>KHỔNG ĐỨC</strong></p>
<div id="attachment_5305" class="wp-caption alignleft" style="width: 250px"><a rel="attachment wp-att-5305" href="http://nguyentrongtao.org/d%e1%bb%8dc-th%c6%a1-hu%e1%bb%b3nh-thuy-ki%e1%bb%81u-gi%e1%ba%a5u-anh-vao-c%e1%bb%8f-xanh.xml/khongduc-2"><img class="size-full wp-image-5305" title="khongduc" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/09/khongduc1.jpg" alt="" width="240" height="155" /></a><p class="wp-caption-text">Nhà phê bình Khổng Đức</p></div>
<p>Đọc thơ là một sự phiêu lưu trong sự đổi mới, một hành vi sáng tạo, sự khởi thủy miên viễn, tái sinh sự ngạc nhiên. Khởi thủy không chỉ là một hành động &#8211; Edward Said  viết &#8211; nó cũng là cái tâm cảnh, một loại công tác, một thái độ, một ý thức.</p>
<p>{Reading poetry is an adventure in renewal, a creative act, a perpetual beginning, a rebirth of wonder. Beginning is not only a kind of action &#8211; Edward Said writes &#8211; it is also a frame of mind, a kind of work, an attitude, a consciousness}.</p>
<p><strong>&#8221; Giấu anh vào cỏ xanh &#8220;</strong> đã được Nhị Ka viết một bài nhận xét với thái độ dè dặt và thận trọng, nên Ca Đại, hay Đại Ca (gọi tắt K.Đ ) phải viết thêm bài này, với bản chất và thái độ của một người vốn chẳng coi ai ra gì, dù già trẻ hay lớn bé, dân dã hay chức tước, nên cứ nói ngay nói thẳng, mất lòng thì chịu.</p>
<p>Đồng ý với Nhị Ka là tập thơ chia ra làm hai phần, từ bài 1 đến bài 16, cứ coi là phần thứ nhất, bỏ đi không nói đến. Vì nó đụng chạm đến những điều kị húy của riêng chúng tôi hay nhóm Bông Giấy cũng được, một là đất nước thái bình hơn 30 năm rồi nên không nhắc đến chiến chinh  nữa. Hai là huyền thoại Lạc Long Quân &#8211; Âu Cơ chẳng hay ho gì nên vứt đi, chuyện con người đẻ trứng là súc vật, nở trăm con không bao lâu ông bà chia tay, bà dẫn 50 lên non, ông đưa 50 xuống biển. Có gia đình nào sống hạnh phúc mà lại chia ly, vậy thì trước khi chia tay nhau đã xảy ra bao nhiêu chuyện hục hặc, đấm đá, chưởi bới&#8230; Sự kiện đó đã để lại cho dân tộc và đất nước bao chua cay, chia rẻ, đố kỵ&#8230;;nên mỗi khi có người nhắc đến con rồng cháu tiên là một sự sỉ nhục chứ chẳng hay ho gì, là kẻ thức giả nên biết điều đó. Có thể Ca Đại nói bậy, thì đó cũng là dĩ nhiên vì bản chất nó hay nói bậy nên ai muốn nghe thì nghe không thì thôi chứ không có tranh luận ở đây. Bây giờ hãy trở lại với thơ trong phần hai là từ bài thứ 17 trở đi, là bài <strong>&#8221; Giấu anh vào cỏ xanh&#8221;, </strong>cũng là nhan đề của tập thơ. Nhị Ka cũng đã nhẹ nhàng liên hệ với những câu thơ trong truyện Kiều. Nhưng tôi thì phải xét kĩ những câu thơ trong bài này trước khi phân tích những câu thơ khác của HTK.</p>
<p><a rel="attachment wp-att-5304" href="http://nguyentrongtao.org/d%e1%bb%8dc-th%c6%a1-hu%e1%bb%b3nh-thuy-ki%e1%bb%81u-gi%e1%ba%a5u-anh-vao-c%e1%bb%8f-xanh.xml/huynhthuykieu2"><img class="alignnone size-full wp-image-5304" title="huynhthuykieu2" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/09/huynhthuykieu2.jpg" alt="" width="480" height="360" /></a></p>
<p>Tên người vốn có liên hệ  đến cả cuộc đời, nên không trách Thúy Kiều hay nói đến cỏ xanh, thì thúy là màu xanh biếc ở lông đuôi của loài chim bói cá, hơn nữa dân ở nông thôn như gắn liền với cây cỏ xanh. Nhưng giấu người yêu trong mùa xanh của cỏ, chờ đến chín mọng một mai sau, thì còn  dùng được vào đâu . Nhìn chung giấu trong cỏ rồi giấu với mưa bay, chắc con người đã thành đồ vật bỏ túi, nên giấu được trong lần tay áo, dẫu có thành búp bê vẫn là con người thu gọn với phép màu là nó sinh từ trứng cũng được đi, nhưng đến khi giấu vào tóc, có sợi chẻ hai, trói lang thang trong từng khoảnh khắc, nhớ mùi thơm mà biết lối tìm về, ý tưởng và hình ảnh khá hay, nhưng con người thành con chí rồi, và cuối cùng là giấu anh vào đất là chôn thể xác sao. Nhưng phân tích thơ theo lý tính là giết chết thơ, không còn thơ nữa mà thơ là phi lý tính, thơ là tiếng nói của nội tâm, tiếng nói của tình cảm. Thế giới của thi ca là thế giới thần bí, phi thuần lý, phi thực tế, thuộc về sự thô lậu của thần thoại. Người ta có thể định nghĩa trái lại, thi ca như là lý trí cao cả, mà lý trí cộng đồng không có khả năng. Cái giá trị đặc biệt của nó, với tính cách là công cụ nhận thức chính xác sinh ra điều nó sáng tạo như trong bầu trời riêng biệt, trong kích thước của sự vật không có lý lẽ suy luận; hoạt động của thi ca từ chối và hỗn hợp cái vô lý tính của lý tính con người mà nó tin đó là sở hữu cái bản chất của sự vật. Cho nên hình ảnh người yêu biến dạng thành đủ thứ có thể giấu được, để :</p>
<p>Khi buồn có bận ngóng trông</p>
<p>Ngước  mắt  nhìn đâu cũng dông bão</p>
<p>Bừng lên vệt sáng chân trời</p>
<p>Có điều làm tôi vô cùng ngạc nhiên, là ở cái xứ Đất Mũi  cùng tận xa xôi, tôi cũng chưa đến bao giờ, nghe đâu muỗi và đỉa là nhiều không chê, mà sao lại có được một nhà thơ nữ thuộc thế hệ gần 8X khá xuất sắc. Ngay ở phần một trong tập thơ, tôi chê không muốn   nhắc tới, nhưng  khi bất chợt đọc hai câu  trong bài <strong>&#8221; Đi tìm dấu cỏ&#8221;</strong> cũng phải giật mình:</p>
<p>Nắng hoang dã  đựng trời xanh quẫy gió</p>
<p>Đêm trên cành rằm non rơi xuống vỡ ấu thơ</p>
<p>Câu thơ đã được xây dựng với những hình ảnh quá đẹp và cầu kỳ, không phải ai cũng làm được và hiểu được. Trong ánh nắng hoang dã của đồng quê mộc mạc chứa đựng cả một bầu trời xanh, với những ngọn gió làm chao đảo vạn vật. Đêm nằm trên cành rằm là phải nhớ đến câu thơ của <strong>Hàn Mặc Tử &#8221; Trăng nằm sóng soải trên cành liễu, đợi gió đông về để lả lơi&#8230;&#8221;</strong></p>
<p>Non rơi xuống là non dại  tự mình gây cho mình hay hoàn cảnh đẩy đưa đã gây ra sự đổ vỡ tuổi thơ. Nên không lạ,  suốt cả phần hai trong tập thơ, chỉ  một chữ &#8220;NHỚ&#8217; là bao   trùm hết. Giấu anh vào   cỏ xanh  cũng  chỉ vì nhớ  mà   thôi, tiếp  theo  <strong>&#8221; Đêm Sàigòn nằm nghe tiếng</strong> <strong>nhớ</strong>, <strong>Mắt mùa</strong> <strong>đông, Đông đang về</strong> <strong>gõ cửa ,v..v&#8230;</strong> Tài tình là đủ các thứ nhớ, mỗi cái nhớ đều khác nhau, tôi mơ màng rằng HTK có thể viết đến hàng trăm nỗi nhớ. Tôi không hề quen biết nhà thơ nữ Cà Mau này, nên không biết đã học thơ ở đâu, chịu ảnh hưởng thơ ai, trình độ học vấn ra sao, hay tự thiên phú, mà viết được những câu thơ tuyệt vời :</p>
<p>Chiều rải vàng mang nhạt nắng đi qua</p>
<p>Sao dốc nhớ bỏ miền thương trầm lặng?</p>
<p><strong>( Ngày không anh )</strong></p>
<p>Ngày tháng rộng dài ướp hy vọng vào hương khuya thầm kín</p>
<p>Réo an lành khép cho trọn cuộc bể dâu</p>
<p><strong>( Đêm Sàigòn nằm nghe tiếng nhớ )</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Xé lòng câu thơ chào đời trước dông bão</p>
<p>Gò ngực hoang gọi đêm đông ửng hồng tháng chạp</p>
<p><strong>( Mắt mùa đông )</strong></p>
<p>Tôi chỉ trích một đôi câu tiêu biểu, cái tuyệt vời ở đây trước tiên là sự cô đọng hàm súc với những hình ảnh  đẹp :  Chiều rải vàng , thật ra là ánh nắng vàng của trời chiều như trải ra, như mang màu vàng  đi qua; nhưng do tác giả bố trí sắp đặt các từ trong câu làm cho nó có một ý nghĩa mới, để bùng nổ cái điều mà vũ trụ chối từ diễn tả bằng ngôn ngữ minh bạch. Chiều ở đây không còn cái thông dụng của chiều thiên nhiên, mà nó đã thành chủ từ chủ thể, mỗi độc giả có quyền tái sáng tạo theo quan điểm của mình. Theo tôi thì Chiều ở đây chính là hình ảnh của tác giả, tự thấy cuộc đời của mình cũng đã ngả về chiều, mang nhạt nắng đi qua là hình ảnh của một thân phận cô đơn lạnh lẽo. <strong>Sao dốc nhớ bỏ</strong> <strong>miền thương trầm lặng?</strong> Muốn lãnh hội được ý nghĩa câu  này thì phải ý thức rằng &#8221; ngôn ngữ của thi ca là ngôn ngữ của ráp nối&#8221;, nó thuộc về kiếp sống phù du mà lại mơ tưởng những hình thức vĩnh hằng, ca tụng những vẻ đẹp ảo bí và cái cá thể sâu xa, bằng cách khơi dậy sự im lặng và thương xót cho sự lầm lẫn. Đặt mọi vật trong sự liên hệ, nó chống lại sự chia cách, kết hợp bằng công việc của những phù hiệu hiện diện thay thế cho sự vắng mặt, sự vĩnh cửu và nhất thời, nó sáng chế ra một không gian ca tụng, ở đó có thể xen vào sự kêu ca phàn nàn (lời của J. Michel Maulpoix, thấy rất thích hợp cho sự diễn tả ý thơ, nên KĐ dịch ra mượn dụng), Sao bên dốc hố nhớ thương sâu xa phải giấu đi trong trầm lặng như cố tình xóa bỏ, như chưa có đợi chờ. Mà  rồi có xóa bỏ được đâu, vì:</p>
<p>&#8220;Bốn mùa thổi vào em thông thốc gió</p>
<p>&#8230;&#8230;. Ngày không anh</p>
<p>Em giặt giũ nỗi buồn</p>
<p>Trắng tinh phiền  muộn</p>
<p>Phơi vào đêm phần phật bão dông</p>
<p>Đúng là trong thái độ im lặng tìm một ngôn ngữ, một hình ảnh để diễn tả, hình ảnh giặt giũ nỗi buồn, hết phiền muộn thành trắng tinh, phơi vào đêm  phần phật bão dông, cố giấu vẫn như hiển hiện những sự đay nghiến giày vò&#8230; Vậy phiền muộn có trắng tinh không, hay mãi mãi&#8230;.</p>
<p>Tính hàm súc là câu thơ ít lời mà nhiều hình ảnh, lắm ý tứ. Thơ đúng nghĩa là hình ảnh, là ẩn dụ kín đáo, chính đó là sức hấp dẫn, là cái ma lực của tác phẩm. Những câu tiêu biểu của HTK vừa trích dẫn ở trên vô cùng kín đáo, xin  nhắc lại :</p>
<p>Xé lòng câu thơ chào đời trước dông bão</p>
<p>Gò ngực hoang gọi đêm đông ửng hồng tháng chạp</p>
<p>Câu thơ này là câu thơ mộc mạc đến tận cùng xé lòng viết cho anh, nó hồn nhiên ngây ngô như giây phút em chào đời trước dông bão &#8211; dông bão này khác với dông bão của đay nghiền dằn vặt mà là đầy tai ương của cuộc đời. Gò ngực hoang là ôm ngực hoang dại, tức tối đau khổ thất vọng, cất tiếng kêu gọi trong đêm đông là hình ảnh kêu gọi trong sự cô đơn lạnh lẽo, tuy nhiên vẫn đầy hi vọng vì là đêm đông của tháng chạp, phía chân trời xa chắc chắn có ánh bình minh ửng hồng.</p>
<p>HTK, theo tôi còn có một tài đặc biệt, là biết vận dụng những động từ như trong hai câu nêu trên :</p>
<p>Ngày tháng rộng dài ướp hi vọng vào hương khuya thầm kín</p>
<p>Réo an lành khép cho trọn cuộc bể dâu.</p>
<p><strong>( Đêm Sàigòn nằm nghe</strong> <strong>tiếng nhớ )</strong></p>
<p>Mưa tưới chiều vội vã</p>
<p>Bến ngây ngô giọt  nước đậu cánh buồm</p>
<p>&#8230;</p>
<p>Thân trần trụi tiễn heo may vào khuya trở rét</p>
<p><strong>( Mắt mùa đông )</strong></p>
<p>Những động từ <strong>ướp, réo, khép, tưới</strong>, <strong>đậu, tiễn, vv&#8230;</strong>có tác dụng như là những nhãn tự làm cho hình ảnh trong thơ vô cùng sống động . Hay những câu như :</p>
<p>Ngực phù sa đẫm hương bùn anh cứ nhấm nháp từng nhịp đập</p>
<p>Và em sẽ chẳng đi lạc con đường trăng khuyết tới hừng đông</p>
<p><strong>( Không đề cho anh )</strong></p>
<p>Và nhà thơ trước hết là người thợ ngôn từ, người thực hiện, tạo hình ngôn ngữ (The poet is first of all a language worker, a marker, a shaper of language.)Bài thơ là một hành vi vượt ra ngoài ngữ nghĩa ngôn từ, bởi vì những gì đang được nói đến luôn luôn tách ra khỏi cái cách mà nó đang nói. The poem is an act beyond paraphrase, because what is being said is always inseparable from the way it is being said. ( Edward Hirsch). Nôm na là ý tại ngôn ngoại. HTK chỉ cần trau luyện thêm  cái thủ pháp &#8221; vị ngoại vi &#8221; hay  &#8220;huyền ngoại huyền&#8221; tức là cái dư âm dư vị ở phía sau bài thơ là thơ của Đất Mũi sẽ toàn bích./.</p>
<p>(7-2010)</p>
<p><strong>K.Đ<br />
</strong> <img src="http://huynhthuykieu.vnweblogs.com/gallery/3173/previews/293126-DSC01398.jpg" border="0" alt="Preview" /></p>
<p><strong>( Nguồn : Văn chương Việt )</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/d%e1%bb%8dc-th%c6%a1-hu%e1%bb%b3nh-thuy-ki%e1%bb%81u-gi%e1%ba%a5u-anh-vao-c%e1%bb%8f-xanh.xml/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Tản mạn với người già, người sồn sồn và người trẻ</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/t%e1%ba%a3n-m%e1%ba%a1n-v%e1%bb%9bi-ng%c6%b0%e1%bb%9di-gia-ng%c6%b0%e1%bb%9di-s%e1%bb%93n-s%e1%bb%93n-va-ng%c6%b0%e1%bb%9di-tr%e1%ba%bb.xml</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/t%e1%ba%a3n-m%e1%ba%a1n-v%e1%bb%9bi-ng%c6%b0%e1%bb%9di-gia-ng%c6%b0%e1%bb%9di-s%e1%bb%93n-s%e1%bb%93n-va-ng%c6%b0%e1%bb%9di-tr%e1%ba%bb.xml#comments</comments>
		<pubDate>Wed, 01 Sep 2010 00:17:03 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chuyện Làng Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Làng văn]]></category>
		<category><![CDATA[HUỲNH THÚY KIỀU]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=5297</guid>
		<description><![CDATA[HUỲNH THÚY KIỀU 
1. Tôi muốn bắt đầu bài viết từ một người già, bác Khổng Đức &#8211; Đinh Tấn Dung, một tác giả lớn tuổi trên Văn Chương Việt. Đọc bài viết của bác đã lâu nhưng chưa có dịp trao đổi gì, bởi tôi không có dịp làm quen và cũng e ngại hình [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>HUỲNH THÚY KIỀU </strong></p>
<div id="attachment_5299" class="wp-caption alignleft" style="width: 200px"><a rel="attachment wp-att-5299" href="http://nguyentrongtao.org/t%e1%ba%a3n-m%e1%ba%a1n-v%e1%bb%9bi-ng%c6%b0%e1%bb%9di-gia-ng%c6%b0%e1%bb%9di-s%e1%bb%93n-s%e1%bb%93n-va-ng%c6%b0%e1%bb%9di-tr%e1%ba%bb.xml/huynhthuykieu"><img class="size-full wp-image-5299" title="huynhthuykieu" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/09/huynhthuykieu.jpg" alt="" width="190" height="266" /></a><p class="wp-caption-text">Nhà thơ trẻ Huỳnh Thúy Kiều</p></div>
<p>1. Tôi muốn bắt đầu bài viết từ một người già, bác Khổng Đức &#8211; Đinh Tấn Dung, một tác giả lớn tuổi trên Văn Chương Việt. Đọc bài viết của bác đã lâu nhưng chưa có dịp trao đổi gì, bởi tôi không có dịp làm quen và cũng e ngại hình ảnh một cụ già 85 tuổi tai yếu, mắt mờ, nghe bằng máy trợ thính, đọc những trang viết của mình cho con ( hoặc cháu ) gõ chữ. Đến khi bạn bè văn nghệ ở Sài Gòn tặng tập GIẤU ANH VÀO CỎ XANH cho bác, mặc dù đang viết bài phê bình tuyển thơ BÔNG &amp; GIẤY, nhưng bác đã gác lại, để ưu tiên viết cho tôi trước, trong khi cả bác và tôi chưa hề biết nhau.<br />
      Nói thật tình, khi bài viết &#8221; Đọc thơ Huỳnh Thúy Kiều GIẤU ANH VÀO CỎ XANH&#8221; đăng đầu tiên trên blog của nhà thơ Linh Phương, đọc đoạn đầu, tôi bị ói chữ vì ông này&#8230; viết sốc, nhưng tôi vẫn cố bình tĩnh để đọc cho hết bài. Cuối cùng tôi &#8221; ngộ&#8221; ra một điều, đó là một hình thức phản biện ngược mà trong lý luận phê bình hiếm người dùng nên ban đầu ít nhiều tôi bị dị ứng.<br />
      Nhà thơ Nguyễn Thị Ánh Huỳnh điện thoại &#8221; tám&#8221; lung tung với tôi và hỏi tôi đã cảm ơn bác Khổng Đức về bài viết cho tập thơ mới chưa, tôi trả lời có quen biết bác đâu mà ơn với cảm. Thế là sau đó tôi xin số điện thoại bác Khổng Đức từ nhà thơ Vũ Trọng Quang, nhưng nhà thơ VTQ bảo rằng bác không dùng di động, bao giờ cà phê với bác, nhà thơ VTQ sẽ chuyển máy để tôi trò chuyện.    </p>
<div class="mceTemp">
<dl id="attachment_5298" class="wp-caption alignright" style="width: 250px;">
<dt class="wp-caption-dt"><a rel="attachment wp-att-5298" href="http://nguyentrongtao.org/t%e1%ba%a3n-m%e1%ba%a1n-v%e1%bb%9bi-ng%c6%b0%e1%bb%9di-gia-ng%c6%b0%e1%bb%9di-s%e1%bb%93n-s%e1%bb%93n-va-ng%c6%b0%e1%bb%9di-tr%e1%ba%bb.xml/khongduc"><img class="size-full wp-image-5298" title="khongduc" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/09/khongduc.jpg" alt="" width="240" height="155" /></a></dt>
<dd class="wp-caption-dd">Nhà phê bình Khổng Đức</dd>
</dl>
<p>Không giống những gì mà tôi hình dung về bác, bữa nọ nhà thơ VTQ điện thoại cho tôi khi ngồi với bác. Một giọng nói hơi chậm của người lớn tuổi nhưng đầy minh mẫn và say mê văn học. Thêm nữa, một cách xưng hô ngộ nghĩnh, bác bảo với tôi rằng, tui mới đọc bài CHO MỘT MÌNH VÀ ĐÊM và THIÊN ĐƯỜNG CÂY XANH LÁ của ông trên Văn Chương Việt, ông có học y khoa không mà ông dùng chữ &#8221; cắm kháng thể&#8221; vậy? Bài THIÊN ĐƯỜNG CÂY XANH LÁ là bài mới nhất của ông hả? Tui đang viết cho một số tác giả nam ở tập BÔNG &amp; GIẤY, tui thích bài THIÊN ĐƯỜNG CÂY XANH LÁ, ông dùng chữ rất mới, viết xong, tui sẽ viết cho bài đó của ông. Sao ông dùng &#8221; Giữa gian truân chìm bước chân sa mạc&#8221; vậy?<br />
      Trời ạ! Vinh dự cho người viết trẻ như tôi quá, vì thơ tôi được một bạn đọc vào tuổi thất thập cổ lai hy thích đến vậy. Chưa hết, bác còn hỏi tiếp, ông đã đọc cuốn TÂM LÝ VĂN NGHỆ của tui dịch từ CHU QUANG TIỀM &#8211; Giáo sư Viện Đại học Bắc Kinh chưa? Chưa hả? Làm văn nghệ thì nên đọc quyển này, cuốn sách hơn 500 trang lận, ông cho tui địa chỉ đi, tui gởi xuống cho ông đọc. Thế là bác lặn lội đi gởi sách cho tôi, 2 hôm sau tôi đã nhận được vì bác đã gởi bằng hình thức chuyển nhanh.<br />
      Tất cả những điều mà tôi vừa kể hoàn toàn trái ngược với những hình dung của tôi về bác, tuy tuổi cao nhưng những suy nghĩ của bác thật trẻ và thật mới. Đến bây giờ tôi mới dám nói là tôi quý bác, một tác giả của những bài phê bình rất mới, một tấm lòng say văn học của một người đã từng học và giảng dạy môn văn trước 1975.<br />
      2. Người thứ hai tôi muốn kể đến, đó là nhà văn Nguyễn Thanh  Nguyên Chủ tịch Hội VHNT Cà Mau. Thường xuyên gặp và cà phê với chú ở Hội nhưng tôi chưa dám &#8221; kết thân&#8221; với chú bao giờ, vì chú là người lớn tuổi, lại làm quản lý, nên tôi thấy có một khoảng cách nào đó, ngộ nhỡ người ta nói mình &#8221; nịnh Chủ tịch&#8221; cũng nên ( hehe ). Tháng 4 năm 2009, thầy trò cùng nhau dự đi trại sáng tác của Uỷ ban   Toàn quốc Liên hiệp các   Hội VHNT VN tổ chức ở Trà Vinh, bắt đầu từ   thời gian  này,  chú  cháu có   vẽ &#8221; thân&#8221; nhau hơn. Tuy nhiên, sau Đại hội Hội VHNT tỉnh Cà Mau hồi cuối tháng 6 đến giờ, chú thôi giữ chức Chủ tịch, tôi mới liên hệ thường xuyên với chú, vì lúc này tôi không còn ngại chuyện &#8221; nịnh Chủ tịch&#8221; nữa. Xúc động nhất là hôm chú đi dự Đại hội Hội nhà văn Việt Nam khóa VIII, chiều ngày 03.8, từ khách sạn Kim Liên, khi ngồi với nhà văn Vũ Hồng, chú gọi về cho tôi bằng một giọng hết sức thâm tình: báo với con là chú đã tới Hà Nội rồi nghen, chú ở chung với nhà văn Vũ Hồng, bây giờ đang cà phê ở ngoài này; tôi nói với chú khi về lại Cà Mau, tôi sẽ mời chú uống cà phê ngoài Hội.<br />
      Hôm bão số 3, nhà văn Nguyễn Thanh nhắn tin cho tôi bảo rằng nhà văn Vũ Hồng nói mưa gió thế này NNT và HTK nên bày tiệc cho chú Mười ( cách gọi thân mật của bọn tôi dành cho nhà văn Nguyễn Thanh ) lai rai đỡ buồn, tôi nhắn lại, chỉ NNT thôi, vì cùng là Hội viên HNV VN với nhau, còn tôi, tôi không dám ngồi chung chiếu với chú, chú trả lời &#8221; TRỚT QƯỚT&#8221;; biết mình đã lỡ lời, tôi hứa &#8221; Trong tuần này con sẽ ghé thăm chú&#8221;.<br />
      Và tôi giữ đúng lời hứa khi tranh thủ ghé thăm chú như đã hẹn; ngoài thềm nhà chú, hoa phong lan tím bông nở lung linh trong gió chiều. Đúng là nhà văn có khác, lãng mạn thật.<br />
      Một buổi chiều cuối hạ, người viết văn sồn sồn và người làm thơ trẻ ngồi với nhau, uống mấy ly rượu với bao nhiêu chuyện đời, chuyện nghề, thật tình đã làm phong phú thêm suy nghĩ của tôi biết bao. Trước khi chào chú ra về, chú nói để chú gọi và chuyển máy cho tôi nói chuyện với nhà văn TTĐ. Khi bước ra thềm nhà, tôi lại hẹn hôm nào con lại ghé chú, trước khi ghé, con sẽ điện thoại trước, chú nói &#8221; mấy người cứ ghé lúc nào cũng được, không cần điện trước, tui nghỉ hưu rồi, có đi đâu đâu&#8221;. Nghe vậy, chạy xe về mà tôi cứ luôn bị ám ảnh câu nói đó của chú mãi, cứ bùi ngùi&#8230;<br />
     3. Người cuối cùng trong câu chuyện kể này là Nguyễn Đức Phú Thọ, một cây viết trẻ đầy triển vọng của An Giang, tôi muốn đùa với Thọ mãi, vì &#8221; nỗi buồn đập cánh thành thơ&#8221;.<br />
      Tôi bất ngờ khi nhận được mail chuyển tiếp từ anh Nguyễn Hòa chủ biên Văn Chương Việt, anh Hòa đã mail cho tôi email của Nguyễn Đức Phú Thọ gởi cho anh ấy, nôm na là Thọ xin địa chỉ mail tôi để làm quen. Tôi đã viết cho em mấy dòng và để lại số điện thoại. Theo tôi, hiện tại Thọ là một cây bút nam trẻ hiếm hoi của thơ ĐBSCL sau Võ Mạnh Hảo và Trương Trọng Nghĩa, tôi vẫn đọc Thọ thường xuyên nên tôi biết, nhất là sau NỖI BUỒN ĐẬP CÁNH, thơ em liên tục xuất hiện trên tienve.org và một số trang mạng khác, cả báo in nữa. Tiếc một điều, vụ &#8221; đập cánh&#8221;, Thọ nóng tính quá.<br />
      Một buổi chiều cách mới mấy hôm, Nguyễn Đức Phú Thọ đã gọi điện cho tôi. Chị em nói chuyện với nhau như những người quen lâu ngày gặp lại, không có khoảng cách nào phải &#8220;dè chừng&#8221; vì lạ lẫm nhau hết. Cảm ơn em đã dành tình cảm tốt đẹp cho tôi và thơ tôi. Nguyễn Đức Phú Thọ đã nhờ tôi một việc không lớn lắm, không nằm ngoài khả năng của tôi, nhưng tôi ngại, xét ở góc độ khách quan, tôi ngại là có cơ sở; nhưng em đã nhất quyết giữ quan điểm của mình, nhất định tôi phải làm việc đó giúp em. Thôi thì, chắc &#8221; từ chối mãi cuối cùng cũng phải viết&#8221; cho em vậy. Tất nhiên viết cái gì, viết như thế nào thì từ từ, khi đủ điều kiện, tôi sẽ cho entry đó xuất hiện trên blogs khi chị em tôi đã thống nhất được với nhau.<br />
      Tản mạn với người già, người sồn sồn và người trẻ không chỉ có vậy, còn nhiều điều xung quanh những trang viết của mỗi nhân vật mà khi có dịp, tôi sẽ bổ sung sau. Có thể tôi đã &#8221; múa rìu qua mắt thợ&#8221; cũng nên. Nếu ba nhân vật ở bài viết này đọc được, thì đây mới là ba lắt cắt chưa đầy đủ, biết đâu khi trà dư tửu hậu với nhau, tôi sẽ viết hay hơn đó&#8230;</p>
</div>
<p><strong>Cà Mau, 01.9.2010<br />
</strong><strong>H.T.K</strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/t%e1%ba%a3n-m%e1%ba%a1n-v%e1%bb%9bi-ng%c6%b0%e1%bb%9di-gia-ng%c6%b0%e1%bb%9di-s%e1%bb%93n-s%e1%bb%93n-va-ng%c6%b0%e1%bb%9di-tr%e1%ba%bb.xml/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>2</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Thơ Trịnh Sơn: TUỔI TRẺ</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/th%c6%a1-tr%e1%bb%8bnh-s%c6%a1n-tu%e1%bb%95i-tr%e1%ba%bb.xml</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/th%c6%a1-tr%e1%bb%8bnh-s%c6%a1n-tu%e1%bb%95i-tr%e1%ba%bb.xml#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 31 Aug 2010 03:09:24 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thơ]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ Việt]]></category>
		<category><![CDATA[Trịnh Sơn]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=5269</guid>
		<description><![CDATA[ 
 


NGUYỄN TRỌNG TẠO: Một dòng thơ tuôn trào tưởng không thể dừng lại. Những ý tưởng lạ lùng và thăm thẳm. Một giọng thơ đau nhiều hơn buồn. Những trăn trở về cuộc đời và thân phận đan cài và giằng xé. Thơ Trịnh Sơn, một tác giả trẻ (sinh 1982 tại Bà Rịa Vũng [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div><span style="color: #993300;"><strong><span style="color: #0000ff;"> </span></strong></span></div>
<div><span style="color: #993300;"><strong><span style="color: #0000ff;"> </span></strong></span></div>
<div><span style="color: #993300;"><strong><span style="color: #0000ff;"></span></strong></span></div>
<p><span style="color: #993300;"><strong><span style="color: #0000ff;"></p>
<div id="attachment_5270" class="wp-caption alignleft" style="width: 130px"><a rel="attachment wp-att-5270" href="http://nguyentrongtao.org/th%c6%a1-tr%e1%bb%8bnh-s%c6%a1n-tu%e1%bb%95i-tr%e1%ba%bb.xml/trinhon"><img class="size-full wp-image-5270" title="TRÍNHON" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/08/TRÍNHON.jpg" alt="" width="120" height="120" /></a><p class="wp-caption-text">Nhà thơ trẻ Trịnh Sơn</p></div>
<p style="text-align: justify;">NGUYỄN TRỌNG TẠO: Một dòng thơ tuôn trào tưởng không thể dừng lại. Những ý tưởng lạ lùng và thăm thẳm. Một giọng thơ đau nhiều hơn buồn. Những trăn trở về cuộc đời và thân phận đan cài và giằng xé. Thơ Trịnh Sơn, một tác giả trẻ (sinh 1982 tại Bà Rịa Vũng Tàu) lại làm tôi nhớ tới Trần Vàng Sao khi xuất hiện với &#8220;Bài thơ của một người yêu nước mình&#8221;. Khi mới đọc được 4 bài thơ của anh, 1 bài trên Website Hội Nhà Văn Việt Nam và 3 bài anh gửi vào Blog của tôi, khiến tôi sững người khi nhận ra một thi sĩ trẻ đang bắt đầu hiện diện trong làng thơ Việt. </p>
<p><span style="color: #993300;"><strong><span style="color: #0000ff;">Sau khi liên lạc được với Trịnh Sơn tôi đề nghị được đọc toàn bộ bản thảo thơ anh, và tôi rất vui được giới thiệu anh với nhà xuất bản. </span></strong></span></p>
<p><span style="color: #993300;"><strong><span style="color: #0000ff;">Tháng 2.2010, nhà xuất bản Hội Nhà Văn đã xuất bản tập TRỊNH SƠN THƠ gây ấn tượng mạnh trên thi đàn thơ trẻ Việt nam với một ngôn ngữ thơ giàu ám tượng văn hóa sử dân tộc. Với một giọng thơ tràn đầy cảm xúc văn hóa, hy vọng Trịnh Sơn sẽ chảy tới chân trời Thơ đang chờ anh phía trước. <br />
<strong><br />
Dưới đây là bài thơ dài &#8220;Tuổi trẻ&#8221; rút từ tập thơ đầu tay của anh.</strong></span></strong></span><span style="color: #993300;"><strong><span style="color: #0000ff;"> </span></strong></span></p>
<div><span style="color: #993300;"><strong><span style="color: #0000ff;"> </span></strong></span></div>
<p></span></strong></span><span style="color: #993300;"><strong><span style="color: #0000ff;"> </p>
<p></span></strong></span></p>
<h2><span style="color: #993300;">TUỔI TRẺ</span></h2>
<p><strong>TRỊNH SƠN</strong> </p>
<p><em><br />
Em đừng xa xót khi đọc thơ anh</em></p>
<p><em>Những câu thơ quá gầy</em></p>
<p><em>Xanh xao chiếc giường tầng ký túc xá lỏng bỏng gói mỳ tôm lót dạ</em></p>
<p><em>Chiếc giường quên kẽo cọt</em></p>
<p><em>Bập bùng mạch đập lãi giun mỗi năm sổ một lần</em></p>
<p><em>Nhưng mỗi ngày,</em></p>
<p><em>Chúng ta phải ăn ít nhất hai lần</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Những câu thơ quá gầy</em></p>
<p><em>Như cuộc đời anh vậy</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Cây me già sân trường mùa hoa thơm</em></p>
<p><em>Tóc em vướng tơ sâu non hít hà</em></p>
<p><em>Giật mình</em></p>
<p><em>Lỡ tay giết một sắc màu vô tội</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Em đừng ôm mặt khi đọc thơ anh</em></p>
<p><em>Nước mắt không thể nào ồn ào như thác</em></p>
<p><em>Giọt buồn giọt vui giọt cay giọt bùi giọt rưng rức giọt ngậm ngùi</em></p>
<p><em>Mưa tháng sáu những buổi chiều dạy kèm chưa kịp về</em></p>
<p><em>Thẩn thơ thèm tấm nylon đường xa ba bốn đứa</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Những câu thơ đầy mưa</em></p>
<p><em>Dầm thấm nhau tháng sáu hát Nguyên Sa mộng nguyên sơ trong mùng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Quán hàng rong mình ghé mấy lần</em></p>
<p><em>Một chiều em bỏ quên chiếc nón</em></p>
<p><em>Xe bus hẹn giờ phố đông không chờ</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Em đừng bịt mũi mỗi lần đọc thơ anh</em></p>
<p><em>Ẩm mốc giấy vụn góc nhà vệ sinh tập thể</em></p>
<p><em>Cuộc đời mình vàng vội đuổi xô lơ mơ cấu xé</em></p>
<p><em>Thảnh thơi nào bằng phút trút bụi cọ kỳ lạnh ngắt</em></p>
<p><em>Nước</em></p>
<p><em>Nước</em></p>
<p><em>Nước</em></p>
<p><em>Tắm anh</em></p>
<p><em>Tắm em</em></p>
<p><em>Tắm dấu sắc dấu huyền</em></p>
<p><em>Tắm vần bằng vần trắc</em></p>
<p><em> </em><em> </em></p>
<p><em>Mẹ ơi</em></p>
<p><em>Tiếng nấc của mẹ ngày sinh con</em></p>
<p><em>Trắng toát giọt mồ hôi im bặt</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Ước mơ của cánh dơi em biết không</em></p>
<p><em>Thơm lừng mọc mời trái chín</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Có những ước mơ đẻ ra trong bầm dập mồi vờn thú</em></p>
<p><em>Đợi chờ răng nhọn chìm ngập</em></p>
<p><em>Kéo dài nỗi đau loanh quanh bước chân chạy trốn</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Những câu thơ lấm bùn</em></p>
<p><em>Tóc rối biếng lười tay vuốt</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Ta đã sống những ngày như thế</em></p>
<p><em>Hốc trọ đời mơ mộng viễn vông</em></p>
<p><em>Mong mặt trời không chùng chân phố</em></p>
<p><em>Mong mặt người thôi níu chân cong</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Mẹ ơi</em></p>
<p><em>Đêm cuối năm buồn hiu hắt phố người dưng</em></p>
<p><em>Pháo lén trong tiếng mớ ngủ thằng bạn xa nhà</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Chui lủi giấc mơ cuộn tròn vượt đèn đỏ</em></p>
<p><em>Nửa đêm thưa người</em></p>
<p><em>Con giẫy chết trong vũng vô tâm và yếu đuối của con</em></p>
<p><em>Người trên đầu người bên hông người dưới chân</em></p>
<p><em>Thời gian bình thường</em></p>
<p><em>Thời gian ngán ngẩm</em></p>
<p><em>Lặp đi lặp lại nỗi day dứt mỗi khi vào siêu thị</em></p>
<p><em> </em><em> </em></p>
<p><em>Mẹ ơi</em></p>
<p><em>Con dốc trườn lưng mẹ dẫn về đâu</em></p>
<p><em>Bụ bẫm con loay hoay mối tình đầu</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Áo vàng này mừng sinh nhật em</em></p>
<p><em>Thức nguyên đêm anh nắn nót ngọn nến hồng</em></p>
<p><em>Ngày mai</em></p>
<p><em>Không thắp</em></p>
<p><em>Chất xám chạy sô ngã ba ngã tư đường cao tốc</em></p>
<p><em>Vụn gió thổi về lóng lánh mắt bồ câu</em></p>
<p><em>Ngày mai</em></p>
<p><em>Phiến ngói nâu sân trường tìm dấu chân anh buổi sáng</em></p>
<p><em>Không thấy</em></p>
<p><em>Chạng vạng đêm qua nuốt áo trắng mất rồi</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Mặt trời hôm qua</em></p>
<p><em>Ngày hôm qua</em></p>
<p><em>Vén một đêm ngã dài con dốc</em></p>
<p><em>Rách nát</em></p>
<p><em>Chông chênh</em></p>
<p><em>Mông mênh</em></p>
<p><em>Cô độc</em></p>
<p><em>Cánh thiên thần không mọc sau bờ vai tan hoang</em></p>
<p><em>Ú ớ đam mê nuôi xác thân vô cảm</em></p>
<p><em>Người lạnh hơn đêm lạnh</em></p>
<p><em>Bóng tròn trăng quên rằm</em></p>
<p><em> </em><em> </em></p>
<p><em>Đừng đỏ mặt khi đọc thơ anh</em></p>
<p><em>Trụi trần tình yêu không bao giờ cần vỏ bọc</em></p>
<p><em>Vú ấy môi ấy mông ấy của những đứa bé Trung Đông đói rách</em></p>
<p><em>Bản năng nhỏ giọt trên uẩn ức chiến tranh</em></p>
<p><em>Bao nhiêu cô gái đã ngậm tay bạn mình tưởng môi hôn của một người trai trẻ</em></p>
<p><em>Những hố bom đức hạnh</em></p>
<p><em>Khoét sâu vết bầm tím</em></p>
<p><em>Những hố bom còn trinh</em></p>
<p><em>Mười ngón chân bấu buồn thùy mị</em></p>
<p><em>Thỉnh thoảng chúng ta bị níu lại giữa đường</em></p>
<p><em>Một bàn tay cầu khẩn</em></p>
<p><em>Tặc lưỡi</em></p>
<p><em>-  Áo hoàng hoa </em></p>
<p><em>  mua đã mua rồi</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>-  nhè nhẹ anh ơi</em></p>
<p><em>  tay em mỏng mảnh</em></p>
<p><em>  lửa mong manh oằn mình qua bão</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Trôi thì trôi</em></p>
<p><em>Thuyền không quen lụy cánh buồm</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Đạp xe dưới trăng</em></p>
<p><em>Con đường bỗng hóa dòng sông</em></p>
<p><em>Em cũng buồm mà anh cũng buồm</em></p>
<p><em>Thời gian là gió</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Trôi về phía có khu vườn hoa sứ</em></p>
<p><em>Trắng muốt hương hé nụ</em></p>
<p><em>Trắng muốt</em></p>
<p><em>Có thể nào tóc em đừng xõa vào tôi như mây quên thả lưng trời</em></p>
<p><em>Cho lũ cây hai bên đường đứng lại</em></p>
<p><em>Cho thanh xuân đứng lại</em></p>
<p><em>Xin mưa vừa một vòng tay bổi hổi</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Trôi thì trôi</em></p>
<p><em>Thành phố dư cánh đồng và vầng trăng trong thư viện</em></p>
<p><em>Góc công viên</em></p>
<p><em>Vắng dần những chuyến xe bắp nướng mỗi chiều</em></p>
<p><em>Cả cuộc đời chúng ta</em></p>
<p><em>Ruộng bậc thang ngang thềm thế kỷ</em></p>
<p><em>Khát cháy cổ bánh mì nóng Sài Gòn</em></p>
<p><em>Sóng biển Đông tạt muối phía không nồng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Áo xanh này anh dành cho em</em></p>
<p><em>Áo xanh này anh dành cho tôi</em></p>
<p><em>Mùa hè đỏ lợm cánh phượng già ươn ướt</em></p>
<p><em> </em><em> </em></p>
<p><em>Dập dìu Tây Nguyên dập dìu Bô-xít</em></p>
<p><em>Dập dìu rơm thơm dập dìu sắt thép</em></p>
<p><em>Dập dìu bầy chim rủ cánh vào lồng</em></p>
<p><em> </em><em> </em></p>
<p><em>Mai</em></p>
<p><em>Em về đâu</em></p>
<p><em>Con phố nhỏ nhớ khập khềnh guốc ngọt</em></p>
<p><em>Tháng quân trường dai dẵng dấu giày khôn</em></p>
<p><em>Chúng ta lớn</em></p>
<p><em>Đến ngày chúng ta lớn</em></p>
<p><em>Ngang mắt nhìn mùa xưa đã mùa sau</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Mai</em></p>
<p><em>Em về đâu</em></p>
<p><em>Ngựa hồng con trai vắt kiệt móng chân sau tấm vé</em></p>
<p><em>Ngựa tơ non con gái ngoảnh mặt gồng lưng chưng hửng Ngọc Hân</em></p>
<p><em>Ngựa Gióng về trời trứng ngủ quên</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Mai</em></p>
<p><em>Em về đâu</em></p>
<p><em>Khi tách café buổi sáng vừa cạn</em></p>
<p><em>Tôi biết</em></p>
<p><em>Một ngày của mình đã mất</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Đã mất</em></p>
<p><em>Khi chưa kịp qua</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Hai bàn chân bước phải bước trên con đường năm này năm kia</em></p>
<p><em>Hai con mắt nhìn về phía xa thật xa</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Có em hay không cuối chân trời ấy</em></p>
<p><em>Có hạnh phúc hay không cuối chân trời ấy</em></p>
<p><em>Có tôi hay không cuối chân trời ấy</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Mỗi ngày bão lũ nhiều hơn</em></p>
<p><em>Mỗi ngày chiến tranh nhiều hơn</em></p>
<p><em>Mỗi ngày dịch bệnh nhiều hơn</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Tách café buổi sáng vẫn đắng vẫn ngọt vẫn đá tan</em></p>
<p><em>Vẫn bàn tay em nhẫn nại khuấy đều</em></p>
<p><em>Vẫn huyên thuyên phố thị trên bàn tay người bán báo</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Vẫn tôi run bắn theo nhịp điện thoại rung</em></p>
<p><em>Vẫn phấp phỏng mồ hôi chờ giờ chảy xuống</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Rất có thể không có cơ hội cho mồ hôi rơi</em></p>
<p><em>Rất có thể tách café sáng mai chưa kịp ra đời</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Quặt quẹo tâm hồn nhiều kẻ ăn không ngồi rồi</em></p>
<p><em>Bỏ đồng xu vào những chiếc nón quặt quẹo</em></p>
<p><em>Có bao giờ anh nghĩ rằng những đồng xu ấy dành cho anh một ngày nào ấy</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Những đồng xu leng keng leng keng xoay vòng</em></p>
<p><em>Đi tong buổi sáng</em></p>
<p><em>Phóng vùn vụt nối đuôi vào sở làm</em></p>
<p><em>Một ngày có đủ đắng và ngọt cười vui và nước mắt</em></p>
<p><em>Bình thường tách café buổi sáng</em></p>
<p><em>Em nhé,</em></p>
<p><em>đừng bao giờ quên thơm</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Tìm chỗ đậu cho một chiếc lá ngủ</em></p>
<p><em>Ấy , niềm vui của gió</em></p>
<p><em>Ngày nứt ra từ nụ mầm vừa mọc</em></p>
<p><em>Ai bảo mặt trời không lửa thắp sau lưng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Phần đất tôi kiến tìm đường làm tổ</em></p>
<p><em>Thành quách ùn ùn dễ vỡ</em></p>
<p><em>Thiếu bàn chân em oan từ độ Dế mèn</em></p>
<p><em>Thênh thang</em></p>
<p><em>Thênh thang</em></p>
<p><em>Chúng ta học được gì từ đường đi loài kiến</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Em đừng bướng bỉnh khi đọc thơ anh</em></p>
<p><em>Bím tóc nghiêng hôn hoàng vào tối</em></p>
<p><em>Máng xối nhà trọ tuôn tuôn tuôn nông nổi</em></p>
<p><em>Vẫn chưa quên giọt khờ dại phía mình</em></p>
<p><em>&#8220;em hồn nhiên rồi em sẽ bình minh&#8221;</em></p>
<p><em>Khánh Ly kéo buổi chiều Trịnh về ban mai ban mai</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Lửa em ơi cháy ngược cháy ngược</em></p>
<p><em>Niềm tin sót đáy ngực</em></p>
<p><em>Hôn nhau đừng nhắm mắt</em></p>
<p><em>Len lén nhìn trò đuổi bắt thời gian</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Chúng ta con Lạc cháu Hồng</em></p>
<p><em>Chúng ta cùng một Mẹ</em></p>
<p><em>Yêu nhau yêu nhau làm sao máu đỏ da vàng</em></p>
<p><em>Cơm áo gạo tiền ngậm ngùi toan tính</em></p>
<p><em>Chuyến xe đưa anh về đồi xa</em></p>
<p><em>Nôi đong đưa giấc mơ có ngôi nhà hoa vàng</em></p>
<p><em>Có gió</em></p>
<p><em>Có sông</em></p>
<p><em>Không có cửa</em></p>
<p><em>Lãng vãng năm này sang năm khác</em></p>
<p><em>Lãng vãng pháo ghi âm</em></p>
<p><em>Nửa cuộc đời ta làm được gì</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Thiên thu ngồm ngoàm miếng bánh ngon</em></p>
<p><em>Bàn tay mỏng mảnh mong manh</em></p>
<p><em>Một đêm len lén ngún thành ngọn lửa</em></p>
<p><em>Chạm đá đá vỡ</em></p>
<p><em>Chạm mưa mưa không ướt</em></p>
<p><em>Chạm mất mất lại còn</em></p>
<p><em>Chạm tôi tôi mênh mông</em></p>
<p><em>Chạm mênh mông mênh mông trốn vào trong ngực</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Mẹ ơi</em></p>
<p><em>Tiếng nấc của mẹ ngày sinh con</em></p>
<p><em>Trắng toát giọt mồ hôi im bặt</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Hừng hực khổ đau và hạnh phúc</em></p>
<p><em>Ngày hôm qua còn lại trong oàm oạp tiếng ếch kêu trời</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Đừng khóc em đừng khóc</em></p>
<p><em>Ngọn sáo cứa trăng bên kia hồ</em></p>
<p><em>Bên này</em></p>
<p><em>Mỵ Nương đã ngủ</em></p>
<p><em>Trong giấc mơ của nàng</em></p>
<p><em>Trương Chi</em></p>
<p><em>Tan</em></p>
<p><em>Hạnh phúc</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>- Thôi, con ngủ</em></p>
<p><em>  Anh ngủ thôi</em></p>
<p><em>  Đừng gác tay lên trán</em></p>
<p><em>  Tháng Giêng thèm lắm một cánh đồng</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em> </em></p>
<p>Bà Rịa, ngày 03 tháng 09 năm 2009</p>
<p><strong>TS.</strong></p>
<div><span style="color: #993300;"><strong><span style="color: #0000ff;"> </span></strong></span></div>
<div><span style="color: #993300;"><strong><span style="color: #0000ff;"> </span></strong></span></div>
<div><span style="color: #993300;"><strong><span style="color: #0000ff;"> </span></strong></span></div>
<div><span style="color: #993300;"><strong><span style="color: #0000ff;"> </span></strong></span></div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/th%c6%a1-tr%e1%bb%8bnh-s%c6%a1n-tu%e1%bb%95i-tr%e1%ba%bb.xml/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>5</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Những bài thơ, nhạc cho Hoàng Sa Trường Sa</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/nh%e1%bb%afng-bai-th%c6%a1-nh%e1%ba%a1c-cho-hoang-sa-tr%c6%b0%e1%bb%9dng-sa.xml</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/nh%e1%bb%afng-bai-th%c6%a1-nh%e1%ba%a1c-cho-hoang-sa-tr%c6%b0%e1%bb%9dng-sa.xml#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 31 Aug 2010 02:53:57 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Báo chí]]></category>
		<category><![CDATA[Phê bình]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[MẶC LÂM]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=5262</guid>
		<description><![CDATA[MẶC LÂM, phóng viên RFA
Mấy lúc gần đây mặc cho chính quyền có thái độ nhũn nhặn đối với vấn đề Hoàng Sa Trường Sa, người trẻ trong và ngoài nước đã chọn Internet làm vũ khí truyền thông để chuyển tải tiếng nói của họ.
Những bài viết tuy dài ngắn khác nhau, nhưng chủ [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>MẶC LÂM, phóng viên RFA</strong><br />
<a rel="attachment wp-att-5263" href="http://nguyentrongtao.org/nh%e1%bb%afng-bai-th%c6%a1-nh%e1%ba%a1c-cho-hoang-sa-tr%c6%b0%e1%bb%9dng-sa.xml/truongsa-2"><img class="alignleft size-medium wp-image-5263" title="truongsa" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/08/truongsa-227x300.jpg" alt="" width="227" height="300" /></a>Mấy lúc gần đây mặc cho chính quyền có thái độ nhũn nhặn đối với vấn đề Hoàng Sa Trường Sa, người trẻ trong và ngoài nước đã chọn Internet làm vũ khí truyền thông để chuyển tải tiếng nói của họ.</p>
<p>Những bài viết tuy dài ngắn khác nhau, nhưng chủ đề chính là đòi chủ quyền Hoàng Sa Trường Sa là của Việt Nam.</p>
<p>Bên cạnh những bài viết có tính chính luận, có không ít bài thơ được gửi đi khắp thế giới trong chủ đề này. Hôm nay chúng tôi mời quý vị thưởng thức vài bài thơ hoặc nhạc phổ từ thơ rất độc đáo của những ngòi bút nổi tiếng hay chưa nổi tiếng, nhưng nét chung của các tác giả lại rất giống nhau: xót xa trước những mất mát không thể bù đắp, và đau đớn trên từng giọt máu đã đổ ra để bảo vệ tổ quốc.</p>
<p>Ngược thời gian trở về với năm 1974, toàn dân miền Nam lúc ấy đang sống trong chiến tranh với miền Bắc nhưng khi nghe tin Hoàng Sa bị Trung Quốc đánh chiếm thì hầu như cả miền Nam rực lửa. Quân đội vừa phải đối diện với các lực lượng lớn đang ùa vào từ miền Bắc lại phải đối mặt với kẻ thù bên ngoài là Trung Quốc, thế gọng kềm đã làm suy kiệt sức chiến đấu của đội binh tinh nhuệ của miền Nam lúc bấy giờ.</p>
<h3>Bài Thơ Cho Hải Ðảo Hờn Căm</h3>
<p>Nhà thơ Phạm Lê Phan, vào chiều 30 Tết Giáp Dần, đã sáng tác bài thơ mang tên “Bài Thơ Cho Hải Ðảo Hờn Căm” như một lời nhắn đối với hải đảo xa xôi. Lời nhắn này làm mềm lòng người nghe và vẫn còn âm hưởng cho tới bây giờ, nhiều năm sau ngày bài thơ được sáng tác <em>Lời biển gọi cuối năm<br />
Hờn căm trừng mắt lửa<br />
- Hỡi Hoàng Sa, hỡi Hoàng Sa &#8230;<br />
Mẹ đứng mũi Sơn Chà<br />
Gửi hồn ra Ðông Hải<br />
Ðảo nổi giận nên biển cuồn sống dậy<br />
Ôi, đất nước ông cha: tay đứt lòng đau<br />
Súng thét khơi xa, sao lửa đốt trong đầu<br />
Lòng mẹ bời bời: ruột mềm máu chảy<br />
Mắt mẹ trông vời, triền môi run rẩy:<br />
- Hỡi Hoàng Sa, hỡi các cháu con ta?</em></p>
<p><em>Con cháu mẹ<br />
Năm mươi đứa làm anh hùng của bể<br />
Năm mươi con thành dũng sĩ Trường Sơn<br />
Bốn ngàn năm mài nhọn mũi căm hờn<br />
Phóng mắt hận, nghiến răng ghìm giặc Bắc.<br />
Cờ Nương Tử phất bay hồn xâm lược<br />
Gươm Mê Linh thét máu nhuộm đầu voi<br />
&#8220;Trèo lên đỉnh núi mà coi<br />
Dáng Bà quản tượng trăng soi ngời ngời&#8221;.<br />
Cửu Chân hề, Cửu Chân ơi!<br />
Gót nhi nữ ra khơi<br />
Ðạp tan luồng sóng dữ<br />
Chém cá tràng kình, rạng danh liệt nữ<br />
Dũng khí Nhụy Kiều gục mặt Bắc quân! </em></p>
<p><em>Ngậm mối thù truyền kiếp mấy ngàn năm<br />
Con cháu mẹ từng nhọc nhằn u uất<br />
Ðắm biển mò châu phơi rừng tìm ngọc<br />
Nanh vuốt sài lang nào kể gái hay trai<br />
Máu mỡ no nê muông thú một bầy<br />
Loài đỉa Hán vốn cuồng say máu Việt<br />
Nước độc rừng thiêng một đi là một chết<br />
Vạn người đi, không một bóng ma về</em></p>
<p>Nhà thơ Phạm Lê Phan khi ấy ngồi ở Sài Gòn nhưng lòng như lửa đốt. Ông dẫn người đọc thơ ông tỏa ra muôn ngã để cùng đau nỗi đau mất nước. Từ Trường sơn cho đến Hoàng Sa. Từ cội nguồn Bạch Đằng đến An Lộc, Trị Thiên, tất cả làm thơ của Phạm Lê Phan như vắt ra thành máu. Kiêu hùng mà xót xa lạ lung.</p>
<p><em>Ðá Trường Sơn con khắc ngập câu thề:<br />
&#8220;Ðòi nợ máu phải đổi răng, đổi mắt!&#8221;<br />
Bạch Ðằng xưa nghẹn giòng muôn xác giặc<br />
Dù Hán, dù Mông nước đỏ cũng hôi tanh<br />
Tóc thú đuôi sam &#8211; gươm dáo Việt tung hoành.<br />
Vó ngựa Lý, Lê từng phen đạp Tống<br />
Ngọn dáo Ðinh, Trần vạch cõi Nam uy dũng,<br />
Ðầu Mãn Thanh vờn kiếm lộng Quang Trung.<br />
Trải an nguy son sắt vẫn một lòng<br />
Mỗi tấc đất một chiến công oanh liệt<br />
Mỗi tên người một anh hùng, nữ kiệt<br />
Mỗi gốc cây muôn xác quỉ vùi sâu<br />
Dòng Việt Nam chưa hề biết cúi đầu<br />
Dù giặc Bắc bạo tàn hơn súc vật! </em></p>
<p>Chất trường ca trong bài thơ rõ nét nhất khi tác giả chuyển đổi các cung bậc làm nó trở thành một bài “Hành” thể loại có tác dụng tương đương tiếng trống ra trận và từ đó thăm thẳm vang vang trong lòng người đọc. Mang mang nỗi ngậm ngùi nhưng cũng không thiếu phần hùng tráng.</p>
<p><em>Hồn Nam Hải cuối năm<br />
Lạnh căm căm hơi bấc<br />
Bởi thương con mẹ lên đỉnh Sơn Trà<br />
&#8220;Ôi Hoàng Sa, hỡi Hoàng Sa<br />
Khôn thiêng nối gót mẹ cha mà về&#8221;.<br />
Hãy đứng thẳng mà đi<br />
Hỡi đàn con từng khua sôi biển cả<br />
Cất cao đầu uống lời thề sông Hóa<br />
Hàm Tử, Vân Ðồn, Tây Kết, Chương Dương,<br />
Vươn chiến công kim cổ Bạch Ðằng Giang<br />
Xô cuồng vọng Bắc Kinh vào biển máu!<br />
Xưa ông cha mình giết Liễu Thăng, Hoằng Tháo<br />
Ðánh gục đầu Tôn Sĩ Nghị, Thoát Hoan.<br />
Giờ bè lũ Mao lại xâm phạm biên quan<br />
Xua hải tặc cuồng điên lên cướp đảo<br />
Ôi Hoàng Sa, hỡi Hoàng Sa yêu dấu<br />
Ðất đai ta một mảng cũng thịt xương<br />
Tổ quốc ta một tấc cũng tim gan<br />
Xương thịt đứt thì tim gan đau xót!<br />
Hỡi đàn con của Cửu Long bất khuất<br />
Ngạo nghễ trên vai hồn An Lộc, Tam Biên<br />
Mang trong tim giòng máu thép Trị Thiên<br />
Lời phạt Bắc thét run hồn biển cả. </em></p>
<p><em>Chiều cuối năm, một mối thù chưa trả<br />
Xuân sắp về &#8211; trời bỗng nặng nề mưa &#8230; </em></p>
<h3>Ai Đó Nói Với Tôi Câu Chuyện Này Có Thật</h3>
<p>Khác với giọng thơ lúc bi tráng lúc ngậm ngùi của Phạm Lê Phan, nhà thơ Đỗ Trung Quân tuy cũng ở Sài Gòn nhưng mốc thời gian là hơn bốn mươi năm sau. Thời điểm này tòa tổng lãnh sự Trung Quốc đã nằm chễm chệ tại thành phố mang tên Bác. Trong bài thơ “<em>Ai đó nói với tôi câu chuyện này có thật</em><strong>” </strong>Đỗ Trung Quân đặt mình vào người lính gác, vị trí gần nhất trước tòa lãnh sự để nhìn vào bên trong, thốt lời cay đắng:</p>
<p><em>tôi</em></p>
<p><em>người lính gác bên ngoài sứ quán trung quốc</em></p>
<p><em>tôi hai mươi tuổi</em></p>
<p><em>có đủ kỷ luật quân đội</em></p>
<p><em>làm nhiệm vụ người lính cấp trên giao</em></p>
<p><em>tôi im lặng </em></p>
<p><em>nhưng tôi nói thầm</em></p>
<p><em>tiên sư bố chúng mày!</em></p>
<p><em>bọn ăn cướp</em></p>
<p><em>ông chỉ là thằng lính gác</em></p>
<p><em>nhưng quốc tịch Việt Nam</em></p>
<p><em>tôi</em></p>
<p><em>người lính gác bên ngoài lãnh sự quán trung quốc</em></p>
<p><em>tôi hai mươi mốt tuổi</em></p>
<p><em>có đủ kỷ luật quân đội</em></p>
<p><em>tôi làm nhiệm vụ cấp trên giao</em></p>
<p><em>“này anh kia! ra khỏi khu vực này! khu cấm tụ tập!”</em></p>
<p><em>rồi tôi lại im lặng</em></p>
<p><em>chỉ nói thầm</em></p>
<p><em>“cứ phun bãi nước miếng vào chúng nó, rồi đi đi những người đồng tuổi!</em></p>
<p><em>cam đoan coi như tôi không thấy</em></p>
<p><em>thật đấy!”</em></p>
<p><em>tôi</em></p>
<p><em>Người lính gác bên ngoài dinh thái thú</em></p>
<p><em>lặng im</em></p>
<p><em>nhưng lòng tôi cuộn sóng</em></p>
<p><em> sóng&#8230;</em></p>
<p><em>sóng&#8230;</em></p>
<p><em>sóng&#8230;</em></p>
<h3>Tổ Quốc Nhìn Từ Biển</h3>
<p>Nhà thơ Nguyễn Việt Chiến không cay đắng như Đỗ Trung Quân, là người lính nằm ở Trường Sơn nhưng lòng lại tha thiết với Hoàng Sa khi hay tin giặc chiếm. Trong bài thơ <em>“Tổ quốc nhìn từ biển” </em>Nguyễn Việt Chiến nhìn thật sâu vào lịch sử bằng cái nhìn tỉnh táo của một người lính.</p>
<p><em>Nếu Tổ quốc đang bão giông từ biển<br />
Có một phần máu thịt ở Hoàng Sa<br />
Ngàn năm trước con theo cha xuống biển<br />
Mẹ lên rừng thương nhớ mãi Trường Sa</em></p>
<p>Đất Tổ quốc khi chập chờn bóng giặc<br />
Các con nằm thao thức phía Trường Sơn<br />
Biển Tổ quốc chưa một ngày yên ả<br />
Biển cần lao như áo mẹ bạc sờn</p>
<p><em>Nếu Tổ quốc hôm nay nhìn từ biển<br />
Mẹ Âu Cơ hẳn không thể yên lòng<br />
Sóng lớp lớp đè lên thềm lục địa<br />
Trong hồn người có ngọn sóng nào không</em></p>
<p>Nếu Tổ quốc nhìn từ bao quần đảo<br />
Lạc Long cha nay chưa thấy trở về<br />
Lời cha dặn phải giữ từng thước đất<br />
Máu xương này con cháu vẫn nhớ ghi</p>
<p>Nguyễn Việt Chiến không huyền thoại hóa nhân vật lịch sử mà mời gọi người đọc sờ tay vào các địa danh thân thương đầy bão tố. Ở đó, Nguyễn Việt Chiến nhận ra nhiều đau đớn vẫn còn trên quê hương anh.</p>
<p><em>Đêm trằn trọc nỗi mưa nguồn chớp bể<br />
Thương Lý Sơn đảo khuất giữa mây mù<br />
Thương Cồn Cỏ gối đầu lên sóng dữ<br />
Thương Hòn Mê bão tố phía âm u</em></p>
<p>Nếu Tổ quốc nhìn từ bao thương tích<br />
Những đau thương trận mạc đã qua rồi<br />
Bao dáng núi còn mang hình goá phụ<br />
Vọng phu buồn vẫn dỗ trẻ, ru nôi</p>
<p>Và Nguyễn Việt Chiến cũng như hàng triệu người khác, cứ mỗi lần giặc tới là anh lại đếm. Cử chỉ đếm ở đây chỉ có thể giải thích như một sự kiên nhẫn vô giới hạn. Như một thước đo căm phẫn ngày một dài ra, và cuối cùng thì Tổ Quốc hôm nay đang trập trung về biển.</p>
<p><em>Nếu Tổ quốc nhìn từ bao hiểm hoạ<br />
Đã mười lần giặc đến tự biển Đông<br />
Những ngọn sóng hoá Bạch Đằng cảm tử<br />
Lũ Thoát Hoan bạc tóc khiếp trống đồng</em><br />
<strong>Gần Lắm Trường Sa</strong><strong> </strong></p>
<p>Thương đất nước trên ba ngàn hòn đảo<br />
Suốt ngàn năm bóng giặc vẫn chập chờn<br />
Máu đã đổ ở Trường Sa ngày ấy<br />
Bạn tôi nằm dưới sóng mặn vùi thân</p>
<p>Nếu Tổ quốc neo mình đầu sóng cả<br />
Những chàng trai ra đảo đã quên mình<br />
Một sắc chỉ về Hoàng Sa thủa trước*<br />
Còn truyền đời con cháu mãi đinh ninh</p>
<p>Nếu Tổ quốc nhìn từ bao mất mát<br />
Máu xương kia dằng dặc suốt ngàn đời<br />
Hồn dân tộc ngàn năm không chịu khuất<br />
Dáng con tàu vẫn hướng mãi ra khơi</p>
<p>Khác với những nhà thơ nam, trong bài thơ “Gần Lắm Trường Sa” Lê Thị Kim bộc lộ tâm tình với biển một cách nhẹ nhàng hơn, chị kể về tình yêu, về đảo xa, về những lần thăm đảo trong trí tưởng tượng, chị viết:</p>
<p><em>Hỡi quần đảo cuối trời xanh<br />
Như trăm hạt thóc vãi thành đảo con<br />
Sóng bào mãi vẫn không mòn<br />
Vẫn còn biển cả vẫn còn Trường Sa</em></p>
<p>Lời anh kể dẫn tôi ra<br />
Bước lên ghềnh đá chim sa xuống đầu<br />
Những loài chim biển hải âu<br />
Tưởng người là loại chim đâu mới về</p>
<p>Sóng ù đặc cả tai nghe<br />
Gió thường là trận bão ghê tốc nhà<br />
Gặp hầm hào ở Trường Sa<br />
Những người lính trẻ vừa xa đất liền</p>
<p>Lê Thị Kim lặng lẽ ngồi nghe anh kể, hòa với muối biển với sóng to, chị cảm nhận được niềm trân quý đảo của những người lính như thế nào.Trường Sa vẫn nằm ngoài kia trong tâm tưởng chị. Nó đã hòa vào tình yêu riêng tư của hai người và thật khó mà biết được bây giờ chị yêu đảo hay yêu anh, bởi lời lẽ trong bài thơ chỉ nhắc đến đảo, nhắc một cách trìu mến thân quen.</p>
<p><em>Anh ngồi kể rất bình yên<br />
Mà sao sóng gió lại truyền sang tôi<br />
Mà sao chùm đảo xa khơi<br />
Nở tung toé tựa sao trời vụt lên</em></p>
<p>Nụ cười tôi giấc mơ đêm<br />
Với quần đảo ấy đã liên quan nhiều<br />
Những người lính đảo tiền tiêu<br />
Chiều nay tiếng biển có kêu đầy hầm</p>
<p>Tay tôi tựa có ai cầm<br />
Thì ra một lá me nằm trong tay<br />
Sài Gòn cây sóng đôi cây<br />
Trường Sa ngoài ấy người hay nhớ nhà</p>
<p>Nơi nào cũng đất ông cha<br />
Sá chi sóng lạ là đà cơn say<br />
Hỡi chùm đảo cuối chân mây<br />
Đâu như chùm trái trên cây mà nhìn</p>
<p>Ở nơi sừng sững niềm tin<br />
Hỡi quần đảo của bốn nghìn năm qua<br />
Tấm lòng theo mũi tàu ra<br />
Với tôi quần đảo Trường Sa rất gần</p>
<p>Không những thơ xuất hiện trên internet còn có vô số các nhạc phẩm post lên ấy như một đóng góp với Hoàng Sa Trường Sa. Nhà thơ Trịnh Sơn có bài thơ được phổ nhạc mang tên “Tiếng Nói Thế Hệ Trẻ”; nhạc phẩm này phần nào đã nói lên được nỗi phấn khích của người trẻ hôm nay trước mất mát của dân tộc. Tác phẩm được Tâm Thư trình bày…</p>
<p>**<object classid="clsid:d27cdb6e-ae6d-11cf-96b8-444553540000" width="430" height="80" codebase="http://download.macromedia.com/pub/shockwave/cabs/flash/swflash.cab#version=6,0,40,0"><param name="src" value="http://static.mp3.zing.vn/skins/gentle/flash/mp3player.swf?xmlURL=http://mp3.zing.vn/play/?pid=IW6UOECO||4&amp;songID=0&amp;_mp3=&amp;autoplay=false&amp;wmode=transparent" /><param name="wmode" value="transparent" /><param name="quality" value="high" /><embed type="application/x-shockwave-flash" width="430" height="80" src="http://static.mp3.zing.vn/skins/gentle/flash/mp3player.swf?xmlURL=http://mp3.zing.vn/play/?pid=IW6UOECO||4&amp;songID=0&amp;_mp3=&amp;autoplay=false&amp;wmode=transparent" quality="high" wmode="transparent"></embed></object>**</p>
<p><a rel="attachment wp-att-5264" href="http://nguyentrongtao.org/nh%e1%bb%afng-bai-th%c6%a1-nh%e1%ba%a1c-cho-hoang-sa-tr%c6%b0%e1%bb%9dng-sa.xml/tiengnoithehetre"><img class="alignnone size-full wp-image-5264" title="tiengnoithehetre" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/08/tiengnoithehetre.jpg" alt="" width="599" height="1426" /></a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/nh%e1%bb%afng-bai-th%c6%a1-nh%e1%ba%a1c-cho-hoang-sa-tr%c6%b0%e1%bb%9dng-sa.xml/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>NƠI NÀO TRIẾT HỌC IM TIẾNG THÌ MINH TRIẾT CẤT LỜI</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/n%c6%a1i-nao-tri%e1%ba%bft-h%e1%bb%8dc-im-ti%e1%ba%bfng-thi-minh-tri%e1%ba%bft-c%e1%ba%a5t-l%e1%bb%9di.xml</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/n%c6%a1i-nao-tri%e1%ba%bft-h%e1%bb%8dc-im-ti%e1%ba%bfng-thi-minh-tri%e1%ba%bft-c%e1%ba%a5t-l%e1%bb%9di.xml#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 30 Aug 2010 16:47:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator>miso</dc:creator>
				<category><![CDATA[Làng văn]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Mạnh Hảo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=5255</guid>
		<description><![CDATA[NTT: Tham luận của Trần Mạnh Hảo, đọc tại cuộc hội thảo “Minh triết  doanh nhân, minh triết kinh doanh”, do “Trung tâm nghiên cứu văn hóa minh triết “ của nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai và GS. Hoàng Ngọc Hiến, kết hợp với “Trường quản lý giáo dục TP.HCM” , “Hiệp hội sản [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #0000ff;">NTT: Tham luận của Trần Mạnh Hảo, đọc tại cuộc hội thảo “Minh triết  doanh nhân, minh triết kinh doanh”, do “Trung tâm nghiên cứu văn hóa minh triết “ của nhà nghiên cứu Nguyễn Khắc Mai và GS. Hoàng Ngọc Hiến, kết hợp với “Trường quản lý giáo dục TP.HCM” , “Hiệp hội sản xuất &amp; chế biến thủy sản Việt Nam ( VASEP)” tổ chức tại Sài Gòn ngày 29-08-2010</span></strong></p>
<p style="text-align: right;"><em>“ Nếu bạn loại trừ đối lập, bạn sẽ loại trừ chính thực tại” <br />
(Héraclite)</em><em>  </em></p>
<p style="text-align: right;"><em>                                                </em></p>
<div id="attachment_5256" class="wp-caption alignleft" style="width: 135px"><a rel="attachment wp-att-5256" href="http://nguyentrongtao.org/n%c6%a1i-nao-tri%e1%ba%bft-h%e1%bb%8dc-im-ti%e1%ba%bfng-thi-minh-tri%e1%ba%bft-c%e1%ba%a5t-l%e1%bb%9di.xml/tranmanhhao-2"><img class="size-full wp-image-5256" title="tranmanhhao" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/08/tranmanhhao.jpg" alt="" width="125" height="166" /></a><p class="wp-caption-text">Nà thơ Trần Mạnh Hảo</p></div>
<p><strong>TRẦN MẠNH HẢO</strong></p>
<p>Diogène nhà triết học cổ Hi Lạp, bạn thân của đại đế Alexandre,  theo trường phái thiên nhiên, khổ hạnh, chống phân biệt chủng tộc, coi rẻ danh vọng, tiền bạc, thoát khỏi dục vọng, khinh thường mọi lý luận triết học siêu hình, nhất là thế giới ý niệm của Platon…đã nhiều lần cầm đèn đi giữa ban ngày trong thành Athènes đô hội để tìm một con người; nhưng rồi ông lắc đầu : không tìm thấy ai ngoài chính ông (!) Có lần Diogène vặt trụi lông một con gà, cho gà chạy ra đường phố Athènes để diễu cợt Platon, rồi chỉ vào con gà trụi lông hô hoán : tìm thấy rồi…tìm thấy con người của Platon rồi ! Chẳng là chính Platon thông thái lại rất ngờ nghệch khi định nghĩa con người : “ <strong>con người là con vật không có lông, đi hai chân</strong>”…</p>
<p>Diogène không hề bị điên hay chập mạch, ông tuyệt nhiên tỉnh táo cầm đèn đi tìm con người trong thành phố giữa ban ngày đầy ắp người ta; chừng như ông muốn giễu cợt các nhà triết học đang uổng công đi tìm chân lý tuyệt đối; hoặc giả, Diogène cầm đèn giữa ban ngày đi tìm cái chúng ta đang tìm là minh triết chăng ?</p>
<p>Triết học, kể từ thời Platon đốt đuốt siêu hình đi tìm thế giới tuyệt đối, con người tuyệt đối trong vũ trụ Ý niệm suốt hơn hai nghìn năm trước, cho đến Kant toan bằng con đường tiên nghiệm, thường nghiệm, vượt qua bản thế thực tại “ vật tự nó” nhưng không tới được, bèn níu lấy sợi dây siêu nghiệm, đánh đu trong trầm tư mặc tưởng đi tìm cái tuyệt đối bản thể vũ trụ, tìm Thượng Đế kiểu Brahman Ấn Độ giáo; đến lượt Hegel- Marx lại đi tìm cái tuyệt đối trên cõi đời, cái tuyệt đối chân thiện mỹ mà khởi thủy Platon hằng mong đạt tới; nhưng, hầu như thảy đều vô vọng…Hình như việc làm của các nhà triết học duy niệm kia giống hệt hành vi của triết gia Diogène cầm đèn giữa ban ngày đi tìm một con người Ý niệm siêu tồn tại…</p>
<p>Sinh thời, chính Marx cũng đã phải thốt lên : triết học Đức đã đến thời khốn cùng…Nhưng Marx vẫn hi vọng sự phục sinh của triết học trong công cuộc “ cải tạo thế giới”, nên ông bám riết lấy ngọn lao triết học duy tâm đang mất đà là biện chứng pháp Hegel, dùng lực tàn duy vật toan phóng lao này tới cõi tuyệt đối đại đồng, nơi biện chứng pháp bị tiêu diệt, thực tại bị lãng quên, chỉ còn nằm tênh hênh cái thiên đường hư ảo mịt mờ…</p>
<p>Trước Marx, đại thi hào Goethe đã khuyên các nhà triết học : “ <strong>Bạn ơi, mọi lý thuyết đều nhuộm màu xám, nhưng cuộc đời khác nào cây mãi xanh tươi</strong>…”</p>
<p>Nietzsche, người đã kết thúc một thế kỷ triết học duy lý Đức bằng sự giễu cợt và báng bổ, đập phá, từng tuyên bố khi ông nghiên cứu bi kịch Hi Lạp : “<strong>Chân lý là người đàn bà mà các triết gia vụng về không chinh phục nổi</strong>”</p>
<p>Triết học, nói cho cùng, giống hệt một đứa trẻ con truy nguyên mọi thứ và mọi thứ hầu như vẫn im lặng, vẫn chưa có hồi âm ?  Tôi là ai ? Tôi từ đâu ra ? Tôi đến đây làm gì ? Tôi đi về đâu ? Đứa trẻ con triết học có lúc gào khóc cật vấn hư vô, như câu thơ Huy Cận :” <strong>một câu hỏi lớn không lời đáp</strong>”…Nhưng các triết gia chừng như chưa tìm ra câu trả lời bản chất nhất, đúng đắn nhất có thể được coi là chân lý . Than ôi, có phải vì “<strong>chân lý là cái lý có chân</strong>” vun vút chạy theo dòng cuồng lưu đời sống biến dịch như Héraclite từng quan niệm ?</p>
<p>Platon phán : “<strong>triết học bắt đầu từ sự ngạc nhiên</strong>”. Chúng tôi xin thêm : triết học bắt đầu từ sự hoài nghi, từ sự bế tắc của con người trước thực tại.</p>
<p>Rằng tôi có thực là tôi hay không, hay tôi đang là một kẻ khác ? Kẻ khác kia có khi nào là chính tôi hay không ? Hay chính là kẻ khác đang núp trong tôi để ngụy tạo thành tôi ? Tôi có thực sự tồn tại hay tôi đang ở trong một ảo giác về sự tồn tại…? Tôi, như Trang Chu hoài nghi sau khi ngủ dậy : tôi vừa mơ thấy mình thành bướm, thức dậy ngơ ngác không biết mình vừa hóa thành bướm, hay bướm vừa hóa thành mình ? Hay chàng Hamlet từng day dứt  đến khốn khổ : “ <strong>tồn tại hay không tồn tại</strong>” ?</p>
<p>Biết rằng, những suy tư triết học rốt ráo có thể là vô vọng, cốt để thỏa trí tò mò, là rách việc, là bao đồng, thậm chí có thể trở thành cái nguyên cớ, nguyên lý, cái công cụ cho các nhà cai trị gian hùng kiểu Machiavel  thực thi cái ác.</p>
<p> Nhưng, nếu để mất đi tư duy triết học, con người có cơ teo dần khối óc, lý trí rồi tăm tối, ý niệm sẽ tàn phai, không còn biết cô đơn, day dứt. Như vậy, có thể con người chỉ dừng lại ở thời kỳ mê cuồng của thần rượu nho Dionysos, trong khoái lạc hiện sinh kiểu Dương Chu, mãi mãi không thể bước lên đỉnh cao trang nhã, mực thước của cái đẹp sang trọng mang tinh thần và thi pháp Apollon như nghệ thuật trác việt Hi Lạp đã đạt tới, hay trong cảm hứng thi ca quý phái, bay bổng, mẫu mực Đường thi.</p>
<p>Con người khổ vì trí tuệ, bất an vì triết học. Không có sự ngơ ngác trước hiện tồn, không có sự hoài nghi trước vũ trụ, không có sự tự lục vấn mình và tư nhiên, con người chỉ còn là một cây sậy thuần túy, không phải là một cây sậy có tư tưởng như Pascal từng tôn vinh. Vâng, “<strong>tôi tư duy, tôi tồn tại</strong>”…Đây là câu khẩu hiệu tự tin quá trớn của trường phái duy lý mà Descarter là chủ soái…Chẳng lẽ, con người không tư duy, không mang những thao thức triết học trong đầu lại không tồn tại hay sao ? Khi con người nằm ngủ, nó ở trong tình trạng mất tư duy; nhưng chẳng lẽ, khi ngủ, con người lại không tồn tại hay sao ? May thay, khi triết học đã leo tới cõi sơn cùng thủy tận của duy lý thì con người vẫn còn những thung lũng, những khoảng trời minh triết…để “cư trần lạc đạo” …Ngoài tư duy, ngoài triết học, con người đã tìm ra nhiều phương cách để tồn tại : tồn tại bằng tôn giáo, tồn tại bằng hoan lạc bản năng, tồn tại bằng khoa học, tồn tại bằng nghệ thuật …chẳng hạn.</p>
<p>Tiếp thu tinh thần duy lý của Hi Lạp, Hegel tiếp tục chỉ đường : “ <strong>Cái gì tồn tại đều hợp lý</strong>”…Sự chỉ đường thiếu minh triết này của Hegel đã góp phần đưa triết học duy lý phương Tây tới chỗ cùng đường. Có rất nhiều món vô lý, phi lý trong vũ trụ vẫn tồn tại đó sao ? Ví dụ, con người đi từ đâu tới trái đất này, nó được Chúa tạo ra hay con khỉ tạo ra, vẫn là cái vượt qua sự hiểu biết, vượt qua cái có lý của con người. Thế giới này sinh ra do tất định hay ngẫu nhiên ? Rằng có Thượng đế và linh hồn hay không ? Chỉ cần một đứa bé chưa biết chữ, suốt ngày hỏi vặt ( truy nguyên) cũng có thể đánh bại được triết luận trên của Hegel. Marx lại tiếp tục góp phần vào công cuộc làm bế tắc triết học bằng nhận định đại loại, lý trí của con người có thể nhận thức được toàn thể vũ trụ, giải thích được mọi hiện tượng của thế giới hiện tồn…Marx khẳng định không có Chúa, không có linh hồn, nhưng nghe đâu, trước khi lìa đời, Marx sợ hãi hỏi cha linh hồn đâu ? Người giúp việc hỏi lại : thưa, tìm cha đạo Do Thái hay cha đạo Thiên Chúa giáo ?…</p>
<p>Sự chủ quan, áp đặt định kiến giới hạn của con người lên vũ trụ vô hạn là một hạn chế chết người của Hi Lạp, thông qua câu cách ngôn rất nổi tiếng của triết gia thời cổ đại  Protagoras : “ <strong>Con người là thước đo vạn vật</strong>”. Ngày nay, vạn vật đang đo đạc lại con người; rằng xem mày còn đủ kích thước tinh thần và văn hóa ở trọ thêm vài trăm năm nữa trên trái đất xanh tươi, nơi đang bị chính mày tàn phá có cơ tiêu vong này hay không ?</p>
<p>Minh triết không cãi lý và cậy mình cậy mẩy kiểu thông thái triết học. Nó thuần phác là những nghiệm sinh đầy chất thấu thị của con người, kiểu như câu thơ Nguyễn Trãi : “<strong>Hoa thường hay héo cỏ thì tươi</strong>”, “ <strong>Nước chảy không mòn bóng núi</strong>” hay câu thơ tuyệt diệu của Nguyễn Gia Thiều : “ <strong>Trẻ tạo hóa đành hanh quá ngán / Chết đuối người trên cạn mà chơi</strong>”…</p>
<p>Vậy, triết học có trước hay minh triết có trước ? Hay hai cái cùng sinh ra trong cõi u tịch, khi con người khắc khoải đi tìm tia sáng của sự khôn ngoan ?</p>
<p> Chúng tôi xin mạo muội có mấy định nghĩa về minh triết như sau :</p>
<p><strong>Minh triết là trực giác thông tuệ.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Minh triết là khi bắt đầu suy tư bằng đôi mắt trẻ thơ.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Minh triết xuất hiện khi con người ngó vào bên trong bản thân mình để tìm ánh sáng.</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p><strong>Minh triết là sự thấu thị của tâm hồn…</strong></p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Có lẽ con người đã đi từ thế giới khả giác đến thế giới khả niệm, nên minh triết xuất hiện trước triết học chăng ?</p>
<p>Nghiên cứu cái gọi là “ triết học tiền Socrate”, chúng ta thấy rằng, phần cốt lõi của dòng chảy tư tưởng này nghiêng về minh triết hơn.</p>
<p>Bằng trực giác có một không hai tạo ra sự minh triết, Héraclite đã tìm ra biện chứng pháp nguyên thủy, điều mà hơn hai nghìn năm sau Hegel tiếp thu và nâng cao thành hệ thống triết học biện chứng danh giá, đến nỗi có người đã gọi Hegel là Chúa Jesus của triết học thế kỷ thứ 19…Không có biện chứng pháp cổ sơ Héraclite, không thể có biện chứng pháp duy tâm Hegel…Trong cuốn “Luận lý học ”, Hegel từng viết : “<strong>Tất cả những mệnh đề trong quyển “Luận lý học” của tôi, đều là những mệnh đề của Héraclite</strong>”.</p>
<p> Thuyết biến dịch của Héraclite là một lý thuyết vĩ đại, chi phối toàn bộ dòng chảy của minh triết và triết học Hi Lạp cũng như của thế giới phương Tây mãi tới sau này : tất cả đều tuôn chảy, không một sự gì đứng trong hữu thể vững chắc, cũng như “ <strong>không ai tắm hai lần trong cùng một dòng sông</strong>”…Cắt nghĩa thuyết biến dịch của Héraclite, Aristote giải thích thêm : “ <strong>Cùng một sự vật vừa có lại vừa không , thực đấy mà ảo đấy</strong>”, rất gần với thuyết sắc &#8211; không nhà Phật.</p>
<p>Chính vì vậy, Nietzsche mới đề cao Héraclite đến mức : “<strong>Một khi trần gian này còn cần đến chân lý thì sẽ luôn mãi cần đến Héraclite</strong>”…Có thể nói, minh triết của Héraclite có nhiều nét tương đồng với minh triết của Lão tử, nhà Đạo học vĩ đại phương Đông đồng thời với ông : cùng coi vũ trụ tồn tại trong biến dịch, có đấy mà không đấy, cùng coi vạn vật là đồng nhất thể : muôn cũng là một, một cũng là muôn nên mới có từ “muôn một”, vũ trụ nhất thể trong đa thể và ngược lại.</p>
<p>Cùng với Lão tử, Héraclite có thể là một trong hai nhà minh triết vĩ đại nhất của nhân loại ngay từ buổi bình minh của lịch sử…</p>
<p>Bằng trực giác minh triết, hai nhà triết học Democrite và Leucippe đã tạo ra tiền đề cho lý thuyết vật lý nguyên tử xuất hiện sau hai ông hơn hai nghìn năm. Từ khoảng mù sương của lịch sử, hai nhà triết học này đã khám phá ra vạn vật được cấu tạo bởi nguyên tử là những hạt vật chất nhỏ nhất không thể bị chia cắt…</p>
<p>Bằng trực giác minh triết, thiên tài toán học Pithagore đã coi toán học là chìa khóa mở vào vũ trụ, nâng toán học lên thành triết học, thành vũ trụ luận. Pithagore coi bản chất của vạn vật là con số, vì con số tượng trưng cho những chân lý bất dịch…Có thể coi Pithagore là vị thần minh, là tiền đề khởi xuất ra lý thuyết computer của thời đại Internet chúng ta chăng ? Vì nhà toán học vĩ đại đã mở ra thuyết số hóa vạn vật, linh hồn của kỹ thật số computer hiện đại. Có thể, những tiên cảm, tiên tri của Pithagore về việc tạo hóa đã số hóa, chương trình hóa, mã hóa mọi hoạt động của con người và vũ trụ ( có thể hiểu như số phận = phận người đã được số hóa)…đang có cơ được khoa học vật lý hiện đại coi hình như là …chân lý…?</p>
<p>Từ bỏ thời đại thần linh của hai đại thi hào mở đầu văn minh là Homère và Hésiode , Hi Lạp đã chuyển sang thời đại minh triết Héraclite, mở ra hừng đông triết học với khởi đầu Socrate.</p>
<p> Có thể nói : MINH TRIẾT của thời đại hoàng kim này được trực giác thấu thị, thời đại mà Héraclite đại diện, đã góp phần sinh ra triết học cổ đại Hi Lạp và toàn bộ nền triết học phương Tây đến tận thời của Descartes, Pascal, Kant, Hegel, Marx, Nietzsche, Heidegger…</p>
<p> Vâng, minh triết đã có trước triết học, cảm quan về thế giới khả giác đã có trước cảm quan về thế giới khả niệm. Dù ngay cả khi triết học khủng hoảng, bị thời đại tri thức bỏ rơi, minh triết vẫn còn hằng sống với con người, là thái độ khôn ngoan lương thiện của con người trước thực tại; bởi minh triết bao giờ cũng là cặp tình nhân của đời sống; khác với bà dì ghẻ triết học chỉ thích đay nghiến và cao ngạo, lăm lăm nén thực tại vào những phạm trù, những khái niệm, những quy nạp, những diễn dịch, những hệ thống theo kiểu nén cà nén dưa, toan khái quát hóa cả ánh trăng và sương khói, toan làm cuộc hôn phối giữa thực tại và hư vô, đặng lục vấn hiện tồn bằng gương mặt cau có của lí trí còi xương…</p>
<p>Tuy vậy, minh triết không tìm cách xung khắc với triết học mà đồng hành cùng triết học, bổ sung dưỡng chất thể xác và tinh thần cho nhà tu khổ hạnh triết học lúc sắp tàn hơi trên đường chinh phục ảo ảnh chân lý. Trên sa mạc triết học, minh triết có thể là những khóm mây hay thảng hoặc những cơn mưa . Khi dòng sông triết học phóng ra những ghềnh thác, hun hút chảy đến mệt nhoài, minh triết chợt hóa thân thành những chiếc hồ êm ả để dòng sông lý trí nghỉ ngơi, an ngủ…Và trong giấc ngủ đông của triết học, minh triết hầu như hiện thân thành những giấc mơ, những ngọn lửa sưởi ấm cả vô thức lẫn hữu thức. Ngọn lửa mà Héraclite từng coi như một biểu hiện của Logos, mang tinh thần biến dịch Thượng Đế, hóa thân vào mọi hình thái sống và chết, thực và mộng, có và không…</p>
<p>Có thể nói, minh triết phần nào giống với linh hồn của triết học, dù triết học có chết đi, thì hồn vía của nó vẫn còn mãi với con người, đặng lúc tăm tối nhất, con người vẫn có thể xé lồng ngực mình, biến trái tim mình thành ngọn đuốt soi đường, như chàng Danco xưa của Gorki đã hóa thân thành ánh sáng, đưa đồng loại vượt qua cái chết đến sự sống…</p>
<p>Lạ thay, trong buổi bình minh của lịch sử, ở ba điểm khác nhau của thế giới, biệt lập nhau là Hi Lạp, Ấn Độ, Trung Hoa…trong cùng một thời gian từ thế kỷ thứ VI đến thế kỷ thứ III trước Thiên Chúa, đã xuất hiện sự khởi đầu vĩ đại của minh triết, triết học và tôn giáo một cách rực rỡ nhất, huy hoàng nhất…</p>
<p>Cùng xuất hiện một lượt với minh triết Hi Lạp tiền Socrate, Đức Phật bước ra từ thế giới đa thần giáo Bà – la – môn. Ngài good bye siêu hình học đầy hỗn mang lẫn lộn trời và đất, lẫn lộn giữa thần và bò, giữa cái vô cùng và cái móng tay của sự vật trong kinh Veda; good bye siêu hình học Upanishad với Brahman ( đại ngã) hít thở muôn ức các atman ( tiểu ngã) vào trong buồng phổi hư vô của mình, rồi thở ra như thủy triều những atman được làm mới bằng những đợt sóng luân hồi đổi phận; good bye đấng sáng tạo toàn năng Brahma ẩn chứa trong Siva hủy diệt tượng hình Linga, ẩn chứa trong Visnu bảo tồn hình ảnh sinh nở phồn thực Yoni.</p>
<p>Chia tay các thần linh, chia tay ngai vàng thực tại, chia tay vợ và con trai mới sinh, chia tay hoan lạc trần gian, Đức Phật  khoác trên mình tấm vải gai thực tại của thầy tu khổ hạnh, chân đất cô độc đi giữa vô minh để ăn mày chân lý, lách qua bạo tàn lừa dối, lặn ngụp trong chết chóc, trong đói rách nhân quần đặng tìm ra phương pháp giác ngộ mà diệt trừ khổ nạn chúng sinh.</p>
<p>Minh triết của Đức Phật là một công án lớn vào bậc nhất nhân loại : nghỉ chơi với Thần Linh, vĩnh biệt các Niết Bàn ( thiên đường) ảo tưởng…Ngài chỉ đường cho loài người : hãy tìm ra Niết Bàn trong chính mình, trong sự giác ngộ về vô ngã sắc sắc không không, từ bỏ tham sân si, từ bỏ hận thù, lấy ân báo oán sẽ diệt được Karma (nghiệp chướng), thoát vòng bể khổ bằng từ bi hỉ xả…Tôn giáo của Phật là tôn giáo con người : “ <strong>Phật là chúng sinh đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành</strong>”. Ngài chỉ mang theo cái đuôi luân hồi của Bà &#8211; La – môn đến trú gốc bồ đề và tìm cách tu hành, đặng tiêu diệt nó…</p>
<p>Này bạn, bạn chỉ cần diệt được dục vọng là bước tới Niết Bàn ngay trong chính mình, trong nhà mình, trong vợ con mình, trong làng xã, trong quốc gia và trong thế giới của mình. Tìm thấy Niết Bàn trong thực tại, đặng sang bên kia thế giới, bạn sẽ được tịnh diệt, không còn phải luân hồi, không còn bị tái sinh trong kiếp con mèo con chó, trong kiếp kẻ nô tì hay kiếp bà bí thư, kiếp ông cán bộ…Lúc ấy, bạn đã đạt được tới toàn ngã ( Brahman), không còn là một tiểu ngã ( atman ) một linh hồn cô đơn trôi dạt như loài sứa vật vờ trên bể khổ trầm luân…</p>
<p>Minh triết Phật giáo là một tôn giáo kỳ lạ, tôn giáo vô thần. Phật bảo : bạn đang thờ chính cõi chân thiện mỹ trong tâm hồn bạn đấy, bạn vừa chuyển hóa thành Phật tự bên trong, thân xác bạn vừa là ngôi chùa nhìn tự bên ngoài. Vâng, một ngôi chùa biết đi lại, biết cần lao, biết khóc cười và biết lấy vợ…</p>
<p>Bằng trực giác nhìn xuyên tám cõi, Phật là hiện thân của minh triết. Có nhiều lời phán dạy của ngài đi trước khoa học thực nghiệm phương Tây hơn hai nghìn năm. Có lần Phật bảo : trong một giọt nước tồn tại hàng vạn sinh linh…Chân lý này làm nhiều người hồ nghi. Chỉ đến thế kỷ thứ XIX, Pasteur mới khám phá ra thế giới vi khuẩn, vi trùng thì lời Phật dạy trên mới được thực chứng. Một thí dụ khác, khi Phật bảo, rằng chúng ta đang sống trong càn khôn chứa ngàn muôn muôn thế giới…Vật lý hiện đại đã chứng minh lời Phật trên là đúng : có rất nhiều vũ trụ chồng chéo lên vũ trụ của chúng ta, có rất nhiều thiên hà bao bọc thiên hà của chúng ta, có rất nhiều thế giới song hành với thế giới chúng ta trong đại vũ trụ không đáy, không chiều, trôi dạt một cách cố định và ngược lại, chúng có thể nuốt chửng nhau vào các lỗ đen như loài mực nuốt bọn phù du…</p>
<p>Minh triết của Phật là minh triết của sự giải thoát : giải thoát chính cả sự giải thoát, giác ngộ chính cả sự giác ngộ. Ngài trỏ đường thoát vô minh, để chúng sinh tự do chọn lựa…Ngài không ép buộc ai phải đi tìm thiên đường trong chính mình : rằng con đường đi tới cõi mình còn khó hơn con đường đi tới cõi người, khó hơn con đường đi ra thế giới truy tìm hoan lạc trần gian…Sau này, có những kẻ bắt chước Ngài, nhưng làm ngược lại Ngài : đi tìm thiên đường trong cõi thế mù tăm. Họ trói hàng đoàn người không thích món thiên đường vật dục, áp tải đoàn người gào khóc kia bằng súng, bằng lưỡi lê, lưỡi mác…ép hàng triệu triệu người phải nhịn đói nhịn khát, rách rưới vô tài sản, lếch thếch lang thang chống gậy đi ăn mày thiên đường.</p>
<p>Dạ thưa các bác, em không thích vào hợp tác xã nông nghiệp đâu ạ ! Không thích cũng phải vào ! Dạ thưa các bác, em không thích vào thiên đường của các bác đâu ạ ! Không thích cũng phải vào !</p>
<p>Họ thúc báng súng vào lưng những đoàn người bị áp tải đi tìm thiên đường, bắt cắt rừng, băng sa mạc, vượt biển bão tố để tìm cõi không cần làm vẫn có ăn, cõi chỉ nhìn đã sướng muốn chết…Ai trốn khỏi hành trình thương khó truy tìm thiên đường của họ, họ bắn bỏ…</p>
<p>Chưa bao giờ chúng con cần sự cứu độ của Ngài như lúc này, thưa Đức Phật ! Xin Ngài mở vòng tay từ bi đón nhận những người anh em chúng con vừa trốn thoát khỏi cái thiên đường giả tạo được cai trị bằng đàn áp…</p>
<p>Ở bên kia dãy núi Pyrénées, à quên, bên kia dãy núi Himalaya cùng thời Đức Phật, tại nước Sở, thời nhà Chu, trên bờ sông Dương tử &#8211; chân lý vẫn được gọi là chân lý, không phải như danh ngôn của triết gia Pascal -xuất hiện một vị thánh làm thay đổi thế giới Phương Đông. Vị thánh ấy là đức Lão tử, đã sinh ra một hệ thống triết học độc đáo bằng chính trực giác rất mực minh triết.</p>
<p>Nhiều người hiểu Đạo vô vi của Lão là không nói gì, không làm gì, tự nhiên sinh ra thế nào cứ để vậy, không cần tác động vào tự nhiên khiến vạn vật được tư do tự tại mà sinh sinh diệt diệt . Hiểu như vậy thì không còn Lão tử nữa. Minh triết Đạo vô vi của Lão là đây : “ <strong>Đạo vô vi không nói gì mà không có gì không nói, không làm gì nhưng không có gì không làm</strong>”…Tinh thần Lão tử là vô vi một cách hữu vi và hữu vi một cách vô vi…Ngài để tâm đến vạn vật, nâng đỡ và an ủi vạn vật. Nhưng tuyệt nhiên ngài không can dự quá sâu vào sự phát triển của chúng, tuôn thủ quá trình tự nhiên của sự vật.</p>
<p>Lão tử sinh ra trong thời loạn, dân chúng bị quan quyền hà hiếp vô cùng tận : cướp bóc, tham nhũng, hành pháp là hành dân bằng mọi phương pháp, hành chính là hành dân là chính. Lão tử cho rằng làm ( hữu vi) như vậy, thà không làm ( vô vi) còn hơn. Quan lại thời Xuân Thu biến dân thành nô bộc, mặc dù Trung Quốc thời cổ đại không có chế độ nô lệ như thời cổ đại Hi-La; việc lập ra Đạo vô vi là ý nguyện cứu đời của Ngài, muốn dân được hưởng chút tự do, tự tại của</p>
<p>kiếp người…</p>
<p>Căm hận bọn cầm quyền áp bức hành hạ dân đen, Lão tử đã ngó lên trời mắng cả Thiên Địa là bất nhân, sao không biết thương dân nghèo, sao thấy dân lành bị khốn khổ mà không cứu : “<strong>Thiên địa bất nhân, xem vạn vật như chó kết bằng rơm”</strong>. Như vậy, theo Lão tử, ông trời nếu có kia không phải là người, vì ông đâu có biết thương người. Thuyết “thiên địa bất nhân” của Lão chống lại thuyết “thiên nhân đồng loại” của thời Văn vương, Võ vương nhà Chu…Trời không biết thương dân, nên Trời là kẻ độc ác.</p>
<p>Cho hay, thuyết Đạo vô vi của Lão vẫn là thuyết cứu đời, cứu người, thậm chí là siêu cứu người vì nó rất nhân bản và cao cả, rất thẳm sâu vậy. Đấy chính là minh triết.</p>
<p>Ngày nay, thuyết vô vi của Lão chừng như vẫn còn rất cần thiết, để những kẻ nóng ruột từng đốt cháy giai đoạn quá độ, bỏ qua quá trình tiến hóa tự nhiên của sự vật mà làm hỏng sự vật suy nghĩ lại mà ăn năn sám hối. Này anh kia, anh mới được mười tuổi sao đã “bỏ qua thời kỳ quá độ” là tuổi thanh niên mà đòi cưới vợ nhỉ ? Này chị kia, quả mít mới đang còn tuổi lớn, đang còn tuổi non, sao chị nỡ “ bỏ qua thời kỳ quá độ “ là thời kỳ già của nó, đã vội bẻ non hòng giấm giúi rồi ngồi chờ suốt cả trăm năm xem mít có chín hay không ? Này, bác kia, nước bác đang còn phong kiến, chưa từng qua tư bản chủ nghĩa, sao bác đã bỏ qua thời kỳ quá độ tư bản mà tiến thẳng lên xã hội đại công nghiệp xã hội chủ nghĩa, bác đã hỏi Ngài Lão tử chưa ? Chết thật, hữu vi như thế thà rằng vô vi triệt để còn hơn ?</p>
<p>Cách đây hơn hai mươi năm, trong một bài bàn về triết học hữu vi và vô vi Trung Hoa, chúng tôi từng viết :” Nếu sông Hoàng hà là bộ óc của nước Trung Hoa thì sông Dương tử chính là tâm hồn của Trung hoa vậy”; có ý cho rằng nếu Nho giáo của Khổng Mạnh cương cường phương bắc là dương, thì Lão Trang phương nam uyển chuyển lãng mạn là âm, hài hòa nhau, bổ khuyết nhau, ôm ấp nhau mà làm nên văn hóa Hoa Hạ. Một bên hữu, một bên Vô, một bên lấy Nhân rất thực làm gốc, một bên lấy Đạo rất  ảo làm gốc thì văn hóa Trung nguyên mới có cơ đứng vững suốt mấy nghìn năm, nếu chỉ có một bên, e rằng nước Trung Hoa đã đổ từ lâu vậy…</p>
<p>Nay bằng cái nhìn minh triết của hai phái Đạo và Nho, mới thấy cách ví von trước kia của chúng tôi là quá khập khễnh…Bởi vì vô vi của Lão là một kiểu siêu hữu vi, hữu vi ở bề sâu : cứu đời ở chỗ tưởng như không cứu đời, ấy mới là cứu đời đích thực vậy.</p>
<p> Minh triết lớn nhất của Lão tử là phát hiện ra khái niệm Đạo : cao hơn thiên địa, sinh ra cả có và không, sinh ra tồn tại và hư vô, sinh ra tất thảy trừ chính mình, có trước vô cùng, không tự sinh không tự diệt…Vũ trụ luận này của Lão là minh triết lớn nhất, vượt qua các vũ trụ luận từ xưa tới nay…Phát minh này của Lão không thể chứng minh bằng thực nghiệm, vì nó mang tính trực giác mặc khải, chỉ có thể gọi nó là minh triết mà thôi.</p>
<p>Trong thời Xuân Thu, gần như cùng trang lứa với Lão tử, ở nước Lỗ bên bờ sông Hoàng Hà, một vị thánh cứu đời khác là Đức Khổng Phu tử đã được sinh ra. Nếu không có sự xuất hiện của nhà bách khoa này, lịch sử Trung Hoa, lịch sử phương Đông sẽ gần như không còn là lịch sử nữa, giống như sự giáng thế của Chúa Kitô đã quyết định nền văn minh Thiên Chúa giáo cho thế giới phương Tây hôm nay. Vai trò của Ngài với minh triết, với triết học và luân lý phương Đông là tối quan trọng, hệt vai trò quyết định của Aristote với văn minh phương Tây vậy.</p>
<p>Sau hơn hai ngàn rưởi năm, cho tới ngày nay ( và có thể cho tới khi loài người kết thúc) thuyết CHÍNH DANH của Khổng tử vẫn còn quá cần thiết cho từng con người và cho toàn bộ xã hội : “ <strong>Danh chính thì ngôn thuận, ngôn không thuận thì việc không thành</strong>”…Trong quá trình tiến hóa từ dã man tới văn minh, từ độc tài tới dân chủ, từ văn minh cơ bắp tới nền văn minh tri thức, chưa có học thuyết nào giản dị mà sâu sắc, tác động tích cực lên sự phát triển của lịch sử loài người như học thuyết chính danh này của Khổng tử.</p>
<p>Ngày nay, khi nhân loại đã bước sang kỷ nguyên tri thức, kỷ nguyên văn hóa của thế giới phẳng, mà lạ thay, có một số xứ sở, ví như xứ sở của chúng ta, vẫn còn tình trạng xã hội nhân quần lộn tùng phèo như thời Khổng tử đã nhìn thấy các trật tự luân thường bị đảo lộn : vua không ra vua, dân không ra dân, cha mẹ không ra cha mẹ, con cái không ra con cái, người không ra người, ngợm không ra ngợm, luật pháp không ra luật pháp, giáo dục không ra giáo dục, văn hóa không ra văn hóa, bằng cấp không ra bằng cấp…thì than ôi, thuyết chính danh vẫn còn đó để cứu đời…</p>
<p>Nho giáo Khổng Mạnh là những minh triết nhân bản nhất khi đã đưa con người lên hàng thần linh để tôn thờ, đó là Đạo Nhân : nhân, nghĩa, lễ, trí, tín. Ngày nay, trên những phần đất đau thương của thế giới, có những kẻ cầm quyền vẫn tôn thờ bạo lực, thờ thuyết duy ác mà lờ đi đạo thờ Người nhân bản của Đức Khổng phu tử, thì học thuyết Nhân vị, học thuyết chính danh, học thuyết trung dung, học thuyết lấy dân làm gồc…của Nho giáo vẫn còn nguyên giá trị cứu đời, cứu người vốn có từ thời cổ đại.</p>
<p> Sau sự thất bại của các tà thuyết xa lạ với con người được thể nghiệm bằng máu và nước mắt, minh triết phương Đông lớn nhất của dân tộc ta vẫn là thế giới đa nguyên văn hóa : tam giáo đồng nguyên. Nhìn vào truyền thống văn hóa dân tộc, nhìn vào văn học nghệ thuật, vào miếu mạo đình chùa, nhà cửa, ẩm thực, ngôn ngữ, tôn giáo, ngó vào tư tưởng tâm hồn ông cha, đâu đâu ta cũng thấy hòa trộn ba yếu tố nhân bản nhất, thiêng liêng và sâu sắc nhất : Phật, Nho, Lão…</p>
<p>Trở lại với nền văn hóa đa nguyên này của ông cha đã từng làm nên nước Việt một nghìn năm Thăng Long, đã đánh bại các đế quốc phương Bắc như Hán, Đường, Tống, Nguyên , Minh, Thanh ( mà không cần có sự chi tiền tối đa nào của ngoại bang ví dụ như Liên Xô, Trung Quốc mới đây chẳng hạn) để bảo tồn giang sơn giống nòi, có lẽ là phương cách tốt nhất đưa đất nước ta thoát khỏi cuộc đại khủng hoảng văn hóa do sự thiếu chính danh, thiếu lòng nhân mà dư hận thù, thiếu chuẩn mực văn minh hôm nay gây ra. Đây  chính là minh triết lớn nhất vậy. Hình như “ Zarathoustra đã phán như thế” ?</p>
<p>Sài Gòn ngày 24-08-2010</p>
<p>T.M.H.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/n%c6%a1i-nao-tri%e1%ba%bft-h%e1%bb%8dc-im-ti%e1%ba%bfng-thi-minh-tri%e1%ba%bft-c%e1%ba%a5t-l%e1%bb%9di.xml/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Hoàng Trần Cương người hóa giải những nỗi niềm, khát vọng</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/hoang-tr%e1%ba%a7n-c%c6%b0%c6%a1ng-ng%c6%b0%e1%bb%9di-hoa-gi%e1%ba%a3i-nh%e1%bb%afng-n%e1%bb%97i-ni%e1%bb%81m-khat-v%e1%bb%8dng.xml</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/hoang-tr%e1%ba%a7n-c%c6%b0%c6%a1ng-ng%c6%b0%e1%bb%9di-hoa-gi%e1%ba%a3i-nh%e1%bb%afng-n%e1%bb%97i-ni%e1%bb%81m-khat-v%e1%bb%8dng.xml#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 30 Aug 2010 01:32:45 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chân dung]]></category>
		<category><![CDATA[Phê bình]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Hoàng Trần Cương]]></category>
		<category><![CDATA[THÁI DOÃN HIỂU]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=5241</guid>
		<description><![CDATA[Nguyễn Trọng Tạo: Một hồn thơ vạm vỡ, cuộn trào như thế mà cày bút vào trường ca thì quả là không nhầm. Đã thế, anh lại còn cày vào Trầm tích… Phải đến anh thì đất và người xứ Nghệ mới thực sự được dựng lên sừng sững như một quần thể tượng đài [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<h3 style="text-align: justify;"><span style="color: #0000ff;">Nguyễn Trọng Tạo: Một hồn thơ vạm vỡ, cuộn trào như thế mà cày bút vào trường ca thì quả là không nhầm. Đã thế, anh lại còn cày vào <strong><em>Trầm tích</em></strong>… Phải đến anh thì đất và người xứ Nghệ mới thực sự được dựng lên sừng sững như một quần thể tượng đài với những hình tượng nghệ thuật độc đáo hiếm thấy. Dưới đây là bài viết đầy cảm hứng với nhiều khám phá sắc sảo về thơ Hoàng Trần Cương của nhà nghiên cứu phê bình Thái Doãn Hiểu. </span></h3>
<h2><span style="color: #993300;">Hoàng Trần Cương người hóa giải những nỗi niềm, khát vọng</span></h2>
<p><strong><span style="text-decoration: underline;">THÁI DOÃN HIỂU</span></strong></p>
<div id="attachment_5243" class="wp-caption alignleft" style="width: 293px"><a rel="attachment wp-att-5243" href="http://nguyentrongtao.org/hoang-tr%e1%ba%a7n-c%c6%b0%c6%a1ng-ng%c6%b0%e1%bb%9di-hoa-gi%e1%ba%a3i-nh%e1%bb%afng-n%e1%bb%97i-ni%e1%bb%81m-khat-v%e1%bb%8dng.xml/hoangtrancuong"><img class="size-medium wp-image-5243" title="hoangtrancuong" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/08/hoangtrancuong-283x300.jpg" alt="" width="283" height="300" /></a><p class="wp-caption-text">Nhà thơ Hoàng Trần Cương - Ảnh NTT</p></div>
<p>Hoàng Trần Cương (*) có hai câu thơ đọc rất thú:<br />
            Cho lưng trời nắng thất thanh<br />
            Để hoàng hôn mải loanh quanh với chiều<br />
                                                (Hoàng hôn xanh)<br />
Có lẽ thơ Hoàng Trần Cương hấp dẫn bạn đọc bắt đầu từ chỗ này đây: mật độ những câu thơ hay như vậy cứ mọc lên dày đặc trong thi phẩm của anh. Ta có thể nhặt thêm:<br />
            Anh gạt mù sa ra vớt nắng<br />
            Vô tình trăng nhú đầu tay <br />
           (Đêm Tây Nguyên)           <br />
Tháng Năm chín tháng Mười vàng<br />
            Em như gạo tám bàng hoàng rượu tăm<br />
                                                (Đá dăm)          <br />
 Trái tim nói bằng lời của mắt<br />
            Đêm âm thầm vùi nắng vào trăng<br />
                                                (Trái tim đêm)           <br />
Gió tha mưa ướt đẫm phố phường<br />
            Nắng láu táu đưa mùa hè đến sớm<br />
            Mùa thu đành lãng đãng theo sương<br />
                                                (Cảm)           <br />
Có phải trái tim nằm lệch một bên<br />
            Nên thương nhớ thường nghiêng về một phía?<br />
                                                (Nhớ từ biển)           <br />
Gió bỗng rộm vàng thơm mùi nắng<br />
            Mây trắng tuôn về loãng hoàng hôn<br />
                                                (Hơi ấm ban ngày)<br />
            Mỗi ban mai cỏ lại xanh ngơ ngác<br />
                                                (Chân dung)<br />
Tháng năm vèo qua rát cả ráng chiều<br />
                                                (Hoàng hôn màu gấc)           <br />
Trăng đầu tháng đỏ ngầu<br />
            Như cái bã trầu ai nhè ngang đỉnh núi<br />
                                                (Thóc giống &#8211; Trầm tích)         <br />
Tiếng ve rẽ cơn mưa đưa nắng vào hè<br />
                                                (Những viên đá lẻ &#8211; Trầm tích)        <br />
 Không dụ nổi cơn mưa<br />
            Cho buổi chiều bớt cạn<br />
                                                (Nỗi nhớ ngày thường)          <br />
 Miền Trung mỏng và sắc như cật nứa<br />
            Chuốt ruột mình thành giải lụa sông Lam<br />
                                                (Miền Trung &#8211; Trầm Tích)<br />
Quả là không có một vật nào trong trời đất là không chứa sẵn thơ khi người thơ biết mở mắt xanh ra với nó. Còn bài hay? Cũng khá nhiều. Ta có thể nếm chất thơ nguyên chất trong Cảm, Hơi ấm ban ngày, Vô tình, chất ký họa gọn sắc trong Đêm Tây Nguyên, Làng; bút pháp dịu ngọt kiệm lời trong Trái tim đêm, đậm đà chất dân dã trong Đá dăm, Hoàng hôn xanh, những tiểu kết sắc gọn ở Dấu vết tháng ngày, chất biểu tượng trong Núi, cách lập tứ vững chãi trong Cầu ao, Miền Trung&#8230;<br />
*<br />
Là người lính, Hoàng Trần Cương đã lặn lội trong máu lửa khắp các chiến trường vì lẽ tồn vong của Tổ quốc để kiếm tìm lẽ sống làm hành trang cho đời. Khi kết thúc chiến tranh, trở về làng quê yêu dấu nơi trái tim anh thường trực cư trú thì bỗng tìm ra được nó. Vây giữa yêu thương tổ ấm gia đình &#8211; mầm mống của tình yêu tổ quốc và các nhân đức xã hội khác, mang một tâm hồn cao cả, Hoàng Trần Cương đã xem quê hương là tất cả và trên hết. Anh đã bạc đầu trước những thăng trầm biến đổi của quê hương.<br />
            Nơi nguyện ước tổ tiên về trên mỗi trang gia phả<br />
            Nơi những vật thiêng vùi mình trong đất đá<br />
            Nơi những câu ca không nhám bụi tháng ngày<br />
            Giọt nước nào cũng háo hức biển khơi<br />
            Giọt nước nào cũng lao xao tiếng vọng<br />
            Tôi lớn lên giữa ngày trong tháng đục<br />
            Cùng dòng sông mắc nợ phù sa<br />
                                                (Cật tre &#8211; Trầm tích)<br />
Hoàng Trần Cương yêu quê đến oặn lòng mới có cái nhìn đằm thắm, tinh tường:<br />
            Lặng lẽ phù sa trôi giữa đôi bờ co thắt<br />
            Hạt bụi nào làm nhặm bóng tháng năm?<br />
                                                (Đất)<br />
với cảm nhận khám phá, từng trải:<br />
Hình như sông cũng nằm mơ<br />
Nửa đêm sóng cười trắng xóa<br />
Hình như bến bờ đau đẻ<br />
Khuya khoắt đất vật ùm ùm.<br />
                                                (Trầm tích)<br />
Cả cái vất vưởng của kẻ thiếu cố hương:<br />
Xa nhà đến cả gió<br />
Cũng lần hồi lang thang<br />
                                                      (Bóng cỏ)<br />
Và với cái nhìn gân guốc bằng cặp mắt nông dân:<br />
Hôm nắng nỏ thì trời không thả gió<br />
            Bữa mưa giầm bão lại xổng vào đêm<br />
                                                (Gió)<br />
Chính quê nhà – nơi đất cằn sỏi đá, nhà tranh vách đất, con người lam lũ nhếch nhác, hoang tàn vì bom đạn, quặn thắt bởi khúc ruột miền Trung bỏng rát gió Lào với mưa nắng thất thường đã đứng lên làm những cuộc cách mạng long trời trong chiến tranh giữ nước bi hùng và vật lộn gian nan với thiên tai để tạo dựng cuộc sống mới. Chính quê hương ấy đã rèn đúc nên một Hoàng Trần Cương &#8211; nhà thơ chiến sĩ với những cảm nhận run rẩy tinh tế từ trong bộn bề kỷ niệm:<br />
           Lại về với con<br />
            Cái nhớ chẳng chịu già<br />
            Thanh thản đồng quê mùa gặt hái<br />
            Rơm vàng đơm nắng trên đê<br />
            Rơm vàng nhảy lò cò với cỏ<br />
            Rơm vàng nguýt lườm lũ nhỏ<br />
            Cơm mới nức thơm cười trắng vung nồi<br />
            Lại về với con mùa tằm ăn rỗi<br />
            Nong kén vàng rủ nắng vào đêm<br />
            Tiếng xa quay ươm tơ vào giấc ngủ<br />
            Tiếng bãi dâu rũ nước đợi trăng ngần.<br />
                                    (Hoàng hôn màu cỏ &#8211; Trầm tích)</p>
<p>Quê nhà, nơi có chuyện cổ tích của bà, những lời dặn dò của mẹ, lời răn của cha, có cây đa bến nước, con đò, dòng Lam xanh, những mái tranh nghèo, vườn cau, “chum tương, chĩnh cà, vại nhút”, có ngôi chùa cổ “một thời ông bụt cũng bỏ làng đi hành khất”, có gốc gạo thiêng làm trai gái làng sờ sợ khi qua đó, có quỷ Cố Bợ ranh mãnh, có lúa khoai, có bãi ngô non, có chiều tà, hoàng hôn xanh, có vầng trăng khuyết, cỏ. Mảnh đất đó có những người nông dân củ mi cù mì “Thường mượn khói thuốc lào chườm nỗi xót xa”, họ yêu ghét rạch ròi kiên định, họ làm lụng đồng áng một nắng hai sương “Trầm mình trong đói khổ &#8211; vẫn thả hồn gió bay” Đó là nơi ấp ủ tình làng nghĩa xóm tối lửa tắt đèn cưu mang đùm bọc lẫn nhau&#8230; Ôi cái làng Đặng cố hương ốc đảo xanh tươi, có đập Ba Ra tung nước cười trắng xóa ban ngày và rì rầm tâm sự cùng ai đó thâu đêm.<br />
            Con không tin mảnh đất này rụi rọ<br />
            Ai đi ra cũng chẳng muốn quay về<br />
            Có một mảnh đời con trong đống rác<br />
            Xin mẹ cho con bới tìm<br />
                                    (Đá đỏ &#8211; Trầm tích)<br />
Tìm gì ? Hoàng Trần Cương toàn tìm được vàng ròng, tìm được thơ đích thực. Cái làng nhỏ quê anh &#8211; một chấm xanh bé xíu thao thức bên trời trên bản đồ nước Việt. Nơi anh vừa mở mắt chào đời “gió Lào mặc cho tôi chiếc áo màu nâu”, rồi liền quẳng anh trụi trần vào lam lũ “đói khát chen nhau gầy rạc lời ru &#8211; Nuốt lống ngày vui có giấc mơ năm ngoái”, đời sống cơ cực đến nỗi “Đắng cay lắng vào trái ớt lúc còn xanh”; nơi thiên nhiên thật khắc nghiệt “chiều quê ráng nhuộm màu nước lũ &#8211; Mưa xói đỉnh đầu &#8211; Nước chảy đứt đuôi rắn”; nơi đó có “Tiếng học bài nóng ran xóm nhỏ &#8211; Tiếng gọi đò méo cả bến sông”; nơi có cảnh dời làng hãi hùng xóa nát cả cảnh quan làng xã được vun đắp từ bao đời “Thôn dưới làng trên nhà cửa tuột trần &#8211; Xua nhau lên núi”; nơi “Nắng ho gà nên chiều tà đến tội’; nơi “Gió quên lượm giọt mồ hôi để da tóc mẹ mồi”; nơi “xanh nghiêng đêm &#8211; thắm lệch ngày”; nơi “Tiếng mõ trâu chùng cả dáng chiều”; nơi “ngửa mặt vấp ngày &#8211; Mở mắt vấp đêm”; nơi “Ngày lủi vào tiếng cuốc thất thanh”; nơi “Cơn đói hé mắt nhìn qua lớp da nhăn &#8211; Lùa cả niềm vui rụng quăn đuôi tóc”; nơi có cảnh “Trời tròn thế mà nắng chiều lặc đói”; nơi “mưa quây khú cả nắng vàng”; nơi có cảnh địa ngục đào đá đỏ &#8220;Người đội lốt ma &#8211; ma lột thành người&#8221;; nơi &#8220;bạc mặt vì quê hương&#8221;, nơi &#8220;giấu nghèo như giấu nhục&#8221;; nơi “Ròng rong mùa chinh chiến &#8211; Bờ tre còm rướn sức trổ mầm non”; nơi “Giật mình súng đã tràn tay &#8211; Bàng hoàng biết tuổi thơ không về nữa”; nơi để nghĩ về “Những nấm mộ quặn rừng già hoang dại”; nơi “Quá khứ ngủ vùi trong đất’; nơi “Những khát vọng niêm phong vào trầm tích”; nơi “Thế kỷ này vẫn lắm quỷ nhiều ma”, nên đời sống người dân còn cay cực “Khuôn mặt nào cũng ngơ ngác đăm chiêu &#8211; Mấy đồng lương vá làm sao kín tháng”; cho đến cả thị thành cũng “Phố dài tái nhợt lo âu&#8230; Chua cả hè đường sấu rụng”; nơi “Nỗi đau là khoảng tối xăm vào ánh sáng’; nơi để lắng lòng tưởng niệm đồng đội đã hy sinh “Đất Quảng Trị ghì vào mình những chùm thơ chưa kịp hái &#8211; Những nỗi niềm đang ráo riết xanh”; nơi “Những buồn vui không giới hạn kiếp người”&#8230;<br />
Sự thật duy nhất nhói lòng chứa trong Trầm tích là nỗi khổ đau và niềm tự hào của nhà thơ về con người và đất quê hương. Hoàng Trần Cương không vội vã giở qua cuốn sách đời, anh khôn ngoan vừa đọc vừa suy nghĩ. Hoàng Trần Cương nung nấu nghiền ngẫm từng câu thơ từng đoạn thơ, thuộc nằm lòng, sửa tới sửa lui, cày nát trên cánh đồng thơ, gieo vãi thật nhọc nhằn, hào sảng và chua chát đến hàng chục năm trời “Đến câu hát cũng hai lần sàng lại – Sao lọt tai rồi vẫn day dứt quanh năm”. Anh thích rèn dũa tâm hồn mình hơn là trang trí nó.<br />
Tác giả đã ghi lại được một chuyện tìn éo le sau chiến tranh thật buốt:<br />
<em>Có người lính mãn thời trai trẻ<br />
Người yêu<br />
giờ đã lấy chồng<br />
Con búp bê mở mắt tròn xoe<br />
Suốt ngày khóc trên tay con của người yêu cũ.<br />
Nhà thơ phô, phô đến kiệt cùng nỗi khốn đốn đói nghèo:<br />
Đất vắt kiệt mình nước mọng múi chanh<br />
Dằng đặc làng quê thưa thắt<br />
Chỏng chơ nồi cơm ngày đói khát<br />
Tảng cháy cạy đi rồi<br />
Còn hằn vết móng tay<br />
cày lên<br />
Sưng cả đáy nồi</em><br />
Anh đắng lòng tìm lại những trang sử đầy máu và lửa, nhằm cảnh tỉnh cuộc sống:<br />
<em>Cạnh đá sắc còn nguyên vết chém<br />
Nghèo khó cắn xé nhau<br />
Con đi qua những địa tầng mưng máu<br />
Gặp những hình nhân rỗng tim<br />
Gặp những vương triều xô nghiêng chính sử<br />
Bây giờ hoai rữa hư không</em><br />
Hoàng Trần Cương có những suy nghĩ rất riêng tư chín đằm, trăn trở:<br />
<em>Mỗi ngày tôi để lại<br />
Vài giọt nắng trong mắt  người thương nhớ<br />
Giọt mồ hôi rơi cuối buổi chiều<br />
Sợi tóc bạc hai đứa nhìn tiếc nuối</em><br />
<em>Đôi nét buồn thổi lạnh mặt người yêu.</em><br />
<em>…Mỗi ngày tôi để lại một vạt lo toan một niềm khắc khoải<br />
Nơi lưỡi cày vừa mới đi qua<br />
Chiều đứng lặng nghe tiếng người cuối bãi<br />
Trăng lại treo lơ lửng trước hiên nhà.</em><br />
                                                (Dấu vết tháng ngày)<br />
Mặc dù khuôn mặt lính còn hốc hác, thi sĩ của chúng ta vẫn cứ luôn đắm đuối nỗi yêu đương luôn trỗi dậy giữa đời thường:<br />
<em>Chiều tươi màu áo người qua phố<br />
Thoáng dáng em về thơm lá non</em><br />
                                           (Chiều xanh)<br />
Thường thì niềm vui lớn, nỗi khổ đau lớn đều câm lặng, ít cất thành lời. Hoàng Trần Cương đã tận tâm giải tỏa nỗi ưu phiền của mình cũng chính là để hóa giải những ưu phiền của đồng loại. Không có những than phiền vặt vãnh, nỗi khổ đau chất chứa lâu ngày phải bật lên thành tiếng.</p>
<p>Thơ và trường ca Trầm tích của Hoàng Trần Cương giống như bộ hồ sơ của vị thẩm phán, một phổ hệ gia tộc, một tiểu sử tính cách được tích góp viết hằng ngày, được phân tích đánh giá theo chiều hướng xã hội học và đạo đức học. Có khi nó còn là một tiếng kêu thương, một lời ca tụng, một câu hỏi nhói buốt hay một chuỗi những lời đáp dang dở không lời.<br />
Điểm xuất phát cho những hồi tưởng của Hoàng Trần Cương là từ góc nhìn gai góc, đau thương. Bao cay đắng ngọt bùi của đời người lặn ngụp vào lòng rồi tích tụ xuống đáy sâu tâm tưởng. Ký ức ấy có dịp là òa ra lai láng.<br />
        <em>    Quay lại tìm trời đã nín thinh<br />
            Quay lại tìm ta không còn là ta nữa</em><br />
                                    (Bóng đa làng &#8211; Trầm tích)<br />
Nhà thơ đã cho ta sống lại những năm tháng tuổi thơ nhọc nhằn, trong ngần những kỷ niệm buồn đau để vươn lên tầm cao cuộc sống.<br />
Làm thơ mà không có một đòn xeo chủ quan thúc đẩy mãnh liệt xuất phát từ một tư tưởng nổi bật của thời đại làm khởi điểm thì khó lay động được hồn người. Khi sự vong ân bội nghĩa của người đời đang diễn ra ở khắp đó đây thì Hoàng Trần Cương là người sống bằng ân sâu nghĩa cả. Với anh, ân nghĩa là một gánh nặng phải gánh. Anh nói về ân nghĩa như là một thứ trí nhớ của lương tri, một món nợ không bao giờ trả xong. Tích trữ ân nghĩa là một việc làm phúc đức. Anh đem lòng bao dung của mình bao dung kẻ khác. Anh lấy việc đền ơn đáp nghĩa làm niềm vui sống. Không hề than thở hay phàn nàn, những khổ ải đã làm cho lòng người bớt oán hờn. Hoàng Trần Cương đã tưới tình thương và đức độ xuống hận thù do kẻ ác gieo cho người thân của anh. Lòng nhân từ, đức vị tha đã nâng con người lên, tiếp thêm cho nhà thơ một năng lượng mới. Đó là cách trả và cũng là cách chữa lành các vết thương của mình.</p>
<p>Những trang đẹp nhất, rung cảm nhất trong Trầm tích Hoàng Trần Cương trân trọng viết dành cho bà và mẹ với tất cả ân tình máu thịt. Bà là bà tiên hiền hậu, là cây cao bóng cả che mát đời anh. Trong bà là cả một kho tàng văn hóa dân gian “Câu ví dặm gầy nhom thì thào như người mới ốm &#8211; Từ trong cái đãy nâu sồng thắt ngang sau lưng bà tối tối lại bò ra” truyền sức sống cội nguồn sang cho cháu. Những câu thơ dung dị không dễ ai cũng viết được:<br />
           <em> Tuổi thơ tôi đi qua<br />
            Trong nắng mưa lấn bấn<br />
            Trong dáng bà đã lấm bóng hoàng hôn<br />
            Những khi bà ốm<br />
            Giàn trầu không đầu hồi bỗng dưng trụi lá<br />
            Mùi hương bay váng vất cả chiều<br />
            Gió mang lá trầu vàng đặt vào manh chiếu<br />
            Ngoài sân<br />
            Một mình cây cau dầm trong sương muối<br />
            Âm thầm cúi đầu<br />
            Giấu bóng vào hiên<br />
            Đợi chừng nửa đêm khi bà tỉnh giấc<br />
            Mây buông mảnh trăng liềm<br />
            Ánh trăng nâng bóng cau non mớm đặt vào mép chõng<br />
            Bỏm bẻm miếng trầu<br />
            Rón rén thức mùi hương</em><br />
                                    (Đất mật &#8211; chương 2 Trầm tích)<br />
Người mẹ của Hoàng Trần Cương là một người mẹ giàu lạc quan. Bà tất tả ngược xuối, tay cắm chân vầy trong bùn ruộng cấy cày gặt hái “Gió thốc vào dáng mẹ bạt theo mưa”. Bà tảo tần “Sấp mặt ngồi cuối chợ &#8211; Nhặt về những đồng xu bạc phếch đất bùn”. Với “đôi chân trần tóe máu tươi” bà quảy đầu con đầu hàng “Gò lưng giữ cho cân đòn gánh &#8211; Chỉ sợ con lật người là đổ mất ngày mai”. Bà tằn tiện, căn cơ “Cái nón mê mẹ đội nửa đời người &#8211; Khi chóp thủng lại trùm lên vại nhút”. Bà xắn váy quai cồng lo toan từng bữa ăn với “vàng khè màu ngô dặt”, với “đĩa rau lang cao như tầng núi xám” cho một gia đình đông con thiếu ăn quanh năm. Bà gạt nước mắt, giấu tiếng thở dài trước mặt con cái “Mẹ chan tiếng cười chạy vòng quanh mâm”. Bà đem cái can trường ra trụ với cuộc đời cơ cực:<br />
            Mẹ vén vun cưng nựng nụ cười<br />
            Trên gương mặt bầy con ngày giáp hạt<br />
                                    (Những viên đá lẻ &#8211; Trầm tích)<br />
Người mẹ của Hoàng Trần Cương là một người đàn bà kiên nghị, biết cách dạy con sống:<br />
            Ngậm đắng nuốt cay<br />
            Không vay mượn tiếng cười<br />
            Mẹ dặn con những giọng cười đi mượn<br />
            Sớm muộn gì cũng phải trả người ta<br />
            Muối đã mặn xin đừng pha nước mắt<br />
            Mồ hồi sẽ lọc mình tinh khiết<br />
            Và nụ cười trở lại sáng bờ môi<br />
                                    (Những viên lá lẻ &#8211; Trầm tích)</p>
<p>Tình yêu của mẹ dành cho anh không bao giờ già. Trái tim của mẹ đã là trường học dũng cảm dẫn dắt tuổi thơ. Hình bóng mẹ luôn thổn thức sống trong tâm tưởng anh, trên môi anh tên mẹ chính là tên của vị thần hộ mệnh.<br />
            Mẹ là trầm tích của làng quê hoa trái<br />
            Cất trữ mọi giấc mơ rồi có mặt trên đời<br />
            Mẹ là trầm tích của bạt ngàn thương mến<br />
            Xanh mát màu trời đượm ấm hương quê<br />
            Đưa ngọn gió trở về xóm nhỏ<br />
            Đưa cơn mưa xuống mạch giếng làng<br />
            Đưa mây trắng về trời khêu lại nắng<br />
            Đưa nỗi buồn ra khỏi thôn trang.<br />
                                    (Những viên đá lẻ &#8211; Trầm tích)<br />
Khi nửa đời nhìn lại mình, đối chứng với bao người khác, đặc biệt với người đã khuất, Hoàng Trần Cương xem những ngày anh sống bây giờ “kể như là lãi”. Anh bảo: “Tư bản của mỗi người chính là vận may của họ &#8211; Tư bản của riêng con &#8211; Là cuộc sống mẹ cho &#8211; Những đồng vốn bằng xương cha da mẹ”.<br />
Và cuối cùng, đọng lại trong hồn nhà thơ là bức tượng đài Người Mẹ tạc bằng nghĩa tình thắm đỏ:<br />
            Mẹ ngồi nhen lửa dưới mưa<br />
            Nuôi tôi giữa nước và trời<br />
                        (Cật tre &#8211; Trầm tích)<br />
Hoàng Trần Cương không hướng về số lượng sự kiện khi phản ánh, mà hướng theo chiều hướng sự kiện tìm tòi tiêu biểu. Các sự kiện chỉ làm nhiệm vụ bắc dàn cho bầu bí suy tưởng xum xuê bò lan ra. Là một kế toán trưởng, Hoàng Trần Cương cân đo đong đếm cuộc đời rất chính xác, tạo ra được những bất ngờ kỳ thú. Những câu thơ so le miên man, hoang dại chạy lúp xúp trên những dòng kẻ đứt nối của thời gian hoài niệm. Dưới ngòi bút của anh cái gì cũng sáng tỏ. Những lời độc thoại ngổn ngang tâm sự của thi nhân đã đem vào thơ cả một niềm hưng phấn trong sạch.<br />
Anh đóng nhiều vai, nhập vai khéo: lúc là trẻ con “nhảy cò cò với cỏ”, lúc là một lão nông tri điền, lúc lại là bà, mẹ, cha, người lính, nhà quản lý, một cán bộ về hưu, nhân viên kế toán&#8230; Anh yêu cái đẹp, cái thật, cái tốt đến nồng cháy, ghét cái dối trá, cái ác, cái xấu đến sâu sắc. Anh yêu mình, yêu những gì trong mình mà người khác có thể yêu được.<br />
Hoàng Trần Cương viết hồi ký bằng thơ. Nhớ lại dĩ vãng để làm gì? &#8211; Dĩ vãng chỉ còn là dĩ vãng hắt hiu, ngồi luyến tiếc quá khứ thì chỉ là một gã khờ bệnh hoạn. Ai chỉ chăm chắm sống cho hôm nay sẽ làm hỏng ngày mai của mình. Còn người sẵn sàng hy sinh hiện tại chỉ ngồi mơ mộng hướng tới ngày mai là một kẻ giơ tay bắt gió hoang tưởng. Với Hoàng Trần Cương, cuộc sống không phải là chuỗi ngày buồn nản đã trôi qua, mà là những mảng đời sướng khổ buồn vui còn tươi nguyên in đậm trong trí nhớ. Quá khứ còn sống trong hiện tại, còn tương lai chính là hiện tại đang đi vào bằng một ngõ khác. Hoàng Trần Cương không tán dương quá khứ, anh hồi ức lại quá khứ là để sáng tỏ hiện tại. Anh vừa mỉm cười vừa tách mình ra khỏi quá khứ. Quá khứ khổ đau là lực đẩy, đẩy anh về phía tương lai. Nhận rõ cái gì là tức thời, cái gì là muôn thuở, Hoàng Trần Cương lấy lửa từ quá khứ chứ không lấy tro tàn. Anh tràn đầy hy vọng sống cho hôm nay bằng cái vốn liếng sẵn có của ngày qua, và tầm nhìn xa trông rộng của ngày mai. Anh không tiến vào tương lai bằng cách đi giật lùi. Đằng sau dĩ vãng, nhà thơ ngả mũ chào; trước tương lai, con người công dân trong anh đang xắn tay áo lên.<br />
Trong thơ Hoàng Trần Cương quá khứ, hiện lại, tương lai hòa quyện đan vào nhau trong một chỉnh thể tạo nên bức tranh thời gian và không gian mênh mông, một thứ thời gian và không gian của tâm tưởng, nỗi niềm, khát vọng. Khi tình đã chín, trí đủ đằm thì thủ pháp cất cánh. Hoàng Trần Cương có chất thi sĩ bẩm sinh, có ý thức tu dưỡng nghề nghiệp, đã định hình phong cách riêng, vừa hùng tráng vừa bi thiết. Bằng những chữ nhặt từ nơi bắt ốc mò cua tinh chế nên, ngôn ngữ thơ Hoàng Trần Cương mang mùi hương đất đai, cây trái, ao vườn, nắng lửa, mưa dồn, bão góp, lảnh lót tiếng mẹ đẻ ầu ơ vọng về từ miền thơ ấu xa xăm. Chất thơ của anh đậm đà trong từng chi tiết bình thường, lặn cả vào trong sỏi đá. Nhà thơ đã say sưa kể cho mọi người nghe về sự phức tạp và cái đẹp của cuộc đời. Hoàng Trần Cương chú ý nâng niu cả đến những cái nhỏ nhặt, những linh hồn bé nhỏ, gắng giảm bớt khổ đau, tăng niềm vui sống cho mọi người. Anh chuyện trò thật đằm thắm, lắng đọng tình người, tình đời, những trải nghiệm phong phú, những đúc rút tinh thông. Người đọc rung cảm phập phồng theo từng vận tiết nơi trái tim sinh nở của thi nhân. Từ trong rơm rạ, nước đọng bùn lầy, Hoàng Trần Cương đã bật lên những cảm hứng đầy thi vị thành những tâm khúc nỗi niềm.</p>
<p>Trầm tích là sự  lắng đọng vật chất như phù sa, các thứ quặng mỏ, lắng kết cả những thứ của cải phi vật thể như ngôn ngữ, phong tục, lịch sử, văn hóa, đạo đức, phẩm tiết…Trầm tích với 19 chương đã được tác giả khai thác như nhà địa chất bóc tách từng vỉa các địa tầng để lộ những châu báu trong lòng đất. Nó là một trường ca bề thế, một dàn hợp xướng đồ sộ, được dàn âm phối khí nhịp nhàng, ăn ý. Cái nội lực giao hưởng này đã làm cho thiên trường ca thành công chuyển tải được khối dung lượng lớn những điều công dân Hoàng Trần Cương muốn thổ lộ. Trầm tích là một trường ca thành công. Phép làm thơ trường thiên phải như sóng dậy, đợt này trùng điệp với đợt sau. Người giỏi thơ thường chỉ nêu ý mà không vạch tên, dẫn lý thông, nói việc trôi, tả cảnh vi diệu. Trầm tích có chi tiết đắt, cốt vững, bút pháp tung hoành, câu thơ vừa êm ái vừa gân guốc, thực và ảo xoắn xuýt lấy nhau. Trong quá trình sáng tạo, ý nghĩa của trực giác nghệ thuật chỉ phát sáng lên khi những tiền tố tư tưởng được người nghệ sĩ đẩy lên hàng đầu. Nhiệm vụ của nhà thơ đâu phải chỉ tái hiện hiện thực thế giới mà điều trọng yếu là phải biểu hiện khát vọng của con người. Thơ phải hướng dẫn con người sống tốt đẹp hơn. Để làm cho thơ mình có thần khí, Hoàng Trần Cương không biểu hiện những gì đã qua, anh đang làm cho cái ấy sống lại và tiếp diễn. Hoàng Trần Cương không phản ánh sự thật trần trụi mà phản ánh một cái gì đó giống như sự thật. Cuộc sống sẽ chuyển hóa tiếp làm nó mất hẳn đi cái chất nguyên thủy tự nhiên để lột xác thành chân lý nghệ thuật. Trong thi phẩm của mình, các hình tượng của Hoàng Trần Chương đều mới mẻ, độc đáo, mỗi hình tượng đều sống đời sống riêng của nó. Nhà thơ hiểu nhiều biết rộng, cảm sâu đạt đến thâm độ lý tính và sự bặt thiệp từng trải.</p>
<p>Trầm tích có kết cấu tự sự giản đơn nhằm biểu đạt quá trình thanh lọc tâm hồn nhà thơ. Hoàng Trần Cương đã đưa ra như một giá trị cao hơn, khái quát hơn cái mà tự nhiên chưa hề có trong bản thân các thi liệu. Thơ anh đã chuyển tải được thế giới chân thật của tinh thần, một thứ hiện thực cao nhất của tồn tại. Chúng ta sửng sốt bởi tính chân thực, hồn nhiên, chuẩn xác như nó đã diễn ra đúng như thế trong đời. Đọc Hoàng Trần Cương ta không tìm thấy mà ta nhận thấy. Nhà thơ đã nâng cao được chất bác học, tính hiện đại trong thơ.<br />
Trầm tích không hiến cho ta một điều gì thật kinh động. Tác giả biết cách giãi bày sự vật, sự kiện như nó chưa bao giờ được nói tới trước kia, đã nhìn sáng rõ hơn người thường tiếng vọng của nhân thế.<br />
Bên cạnh những điểm mạnh trên, Hoàng Trần Cương còn vướng phải một vài khiếm khuyết. Thỉnh thoảng nhà thơ còn để cho tình cảm của mình dắt đi, cuốn theo nên các thao tác tư duy thơ có chỗ rối. Anh miên man say nên giọng kể có khi sa đà, tứ bị dàn trải, phân bố không cân xứng, quên chỗ dừng, trùng lặp hoặc dùng thái quá các thi liệu: Hoàng hôn (“Tấp hoàng hôn đóng nhấm cuối chiều” &#8211; “Mây trắng tuôn về loãng hoàng hôn”), chiều, trăng, nắng &#8211; [Câu thơ khá hay “Đêm âm thầm vùi nắng vào trăng” nhưng môtíp này có khác chi “Nong kén vàng rủ nắng vào đêm”, có khác chi “Để nắng lặn vào mắt trong...”. Hình ảnh đẹp rất Nghệ “nắng ra nàng” đã dùng ở Trầm tích rồi thì Đỉnh vua chớ dùng lại nữa].<br />
Hoàng Trần Cương còn để lại những câu thơ khắc chạm nhưng gia công hơi quá tay:<br />
            Đâu chỉ lỡ một chuyến đò đánh chìm duyên đôi lứa<br />
            Trái tim trẫm mình trong máu đỏ tươi<br />
                                    (Sấp ngửa bàn tay)<br />
Anh đã dụng công nhưng vẫn chưa vượt khỏi hơi hướm của thơ tiền chiến:<br />
            Áo ai chợt sẫm màu thương nhớ<br />
            Mượn bóng hoàng hôn trốn bóng mình&#8230;<br />
                                    (Manh áo hoàng hôn)<br />
*<br />
Plutác viết rằng “Tình yêu cổ xưa nhất tình yêu cuộc sống. Và bài thơ hay nhất chính là bài thơ của sự sống”.<br />
Với một tay nghề già dặn, thơ Hoàng Trần Cương là thứ phù sa kết đọng mang nét tổng kết cuộc đời sau những năm tháng vật lộn gian nan. Như một tấm gương lồi, nhà thơ đã phản ánh được những vấn đề chân thật và bản chất nhất có tính đặc thù của thời đại ta đang sống. Soi vào dòng thơ Hoàng Trần Cương ta thấy bóng dáng mình thấp thoáng nổi chìm. Nhà thơ đã cảnh báo: sống đâu phải dễ, phải kiên cường lắm mới mong sống sót ở đời.<br />
Trầm tích và tập thơ Quà tặng của của thế kỷ của Hoàng Trần Cương là những thi phẩm có giá trị được kết tinh bằng máu huyết của một thi nhân tạo nên khí cốt tầm vóc thi bá. Văn học Việt Nam hiện đại ghi thêm một tên tuổi mới sáng giá về trường ca :Hoàng Trần Cương, sau những Thu Bồn, Hữu Thỉnh, Anh Ngọc, Thanh Thảo, Thi Hoàng, trước những Nguyễn Vũ Tiềm… Trầm tích  là bản trường ca về cuộc sống, bài ca về số phận con người mang ý nghĩa nhân văn bởi nó đã khêu gợi và truyền lửa cho ta hành động. Thơ Hoàng Trần Cương là quyển cách trí, là sách học làm người bằng thơ hướng cho con người một thế đi, dáng đứng.<br />
Sau chiến tranh thơ ta đang có xu hướng khai thác đời tư và những mảnh đời vụn vặt, nhàn tản thì Hoàng Trần Cương đã dám xông thẳng vào những vấn đề thế sự gai góc nóng bỏng của xã hội hôm qua và hôm nay để hướng tới ngày mai tươi sáng với cái nhìn sắc bén, tổng lực cất lên tiếng nói mạnh bạo có trọng lượng, đầy ma lực  nghệ thuật. Trầm tích là thiên trường ca  có lẽ là hay nhất trong các trường ca hay của nửa cuối thế kỷ XX đầy giông bão, máu lửa.<br />
Trầm tích của một đời đã trầm lắng hết kết xuống  Trầm tích thành Trầm Nghệ ca độc đáo. Tác giả đã “tuốt xác ra mà thơ,…nó vật vã, tướp táp, thắt ngực buốt lòng” (Thanh Thảo). “Đây là một trường ca được viết bằng một thủ pháp nghệ thuật khúc chiết trong các cặp đối lập, nhưng đầy va đập giữa các ngôn từ, hình ảnh, lý trí, cảm xúc, với lối kết cầu đa tầng, đa thanh, đa nghĩa. Tác giả sử dụng đầy ắp các động từ, nhịp thơ sinh động, biến hóa và tạo được “ép phê” cực mạnh ở các cao trào phụ trong từng chương đoạn nhằm đẩy tới một cộng hưởng gần cuối tác phẩm (chương Đá đỏ). Hoàng Trần Cương đã tạo ra một thi pháp động rất đặc sắc trong thơ Việt cuối thế kỷ XX” (Nguyễn Trọng Tạo). “Trầm tích bởi 5 cái “rất”: rất Nghệ, rất thật, rất lính, rất riêng và rất giáo hưởng” (Nguyễn Thụy Kha). “Trầm tích thô tháp mà vẫn không thiếu tinh tế, nhạy cảm” (Đỗ Chu). “Tôi mê thơ Hoàng Trần Cương. Tác giả đã đi hết cỡ cái cá nhân mình trong tác phẩm” (Trung Trung Đỉnh). “Qua độ lắng của thời gian, thấy Trầm tích không bị phai nhạt” (Phạm Tiến Duật). Ra đời hơn chục năm, Trầm tích đã sống một đời sống khỏe mạnh tươi tốt “Lâu lắm tôi mới được đọc một tập sách dày dặn, chứa đựng thật lớn thế này. Tác giả Trầm tích là một thi sĩ đích thực, một nhà thơ lớn. Phải yêu quê hương, gắn bó máu thịt với quê hương đến mức nào thì mới viết được như thế. Đọc ứa nước mắt. Đấy chính là thơ đích thực của quê hương  Việt Nam nghèo khổ. Con người Việt Nam đích thực phải là con người miền Trung. Thơ Hoàng Trần Cương đậm đặc chất miền Trung, chất xứ Nghệ. Chúng ta có thể nhặt ra từng câu thơ như những viên kim cương lấp lánh. Tôi đọc ba lần, lần nào cũng phát hiện ra được những chi tiết đắt giá. Trầm tích rõ ràng có không khí trường ca, nhất quán chất trường ca” (Hoàng Cầm). “Trầm tích là một bài thơ lớn chứa nhiều chục bài thơ nhỏ có giá về Cội nguồn, về Đất đai, về Hạt giống, về quặng lửa… “ (Hồ Phi Phục). Với Trầm tích, “anh Hoàng Trần Cương đã chọn hướng đi đúng. Viết trường ca là dấn thân vào phiêu lưu. Tác giả phải biết giữ người ta ngồi lại đọc qua hàng trăm trang thơ, hàng ngàn câu thơ. Về nghệ thuật trường ca, nên tạo ra “khoảng trống” đó nhằm tạo ra vùng liên tưởng, để bạn đọc cùng ta sáng tạo lại một lần nữa , mở ra những thế giới khác, tái sinh ý nghĩa” (Hữu Thỉnh) (1)<br />
Trầm tích là như vậy đó! Tôi nghĩ, nếu có viết thêm 4 trường ca nữa như dự kiến thì rồi Hoàng Trần Cương cũng khó mà vượt qua được chính anh?  <br />
Thoạt trông, cái mặt Hoàng Trần Cương ẩn tướng rất khó nhìn, nó khắc khổ, góc cạnh và bụi bặm. Đúng là hoa sen trong giếng ngọc! Là hậu duệ đời thứ29 của Lưỡng quốc Trạng nguyên Mạc Đỉnh Chi, Hoàng Trần Cương mang trong mình dòng máu thơm tài hoa và tiếp tục làm rạng danh công đức cụ tổ của mình. Anh đã hai lần đoạt giải trạng nguyên về văn chương.</p>
<p>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;<br />
<em><strong>(*) Nhà thơ Hoàng Trần Cương sinh ngày 30-7-1948 tại xã Đặng Sơn, Đô Lương, Nghệ An. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1994). Hội viên hội Nhà báo Việt Nam. Hội viên Hội Kế toán Việt Nam.<br />
Sau khi tốt nghiệp Cử nhân Đại học Tài chính &#8211; Kế toán, tháng 8-1970 Hoàng Trần Cương gia nhập quân đội chiến đấu ở các chiến trường miền Nam, Lào và Tây Nam. Kết thúc chiến tranh 1975, nhà thơ ra quân chuyển ngành làm chuyên viên ngành kế toán kinh doanh, bộ Tài chính. Hiện nay là Phó tổng biên tập, rồi Tổng biên tập Thời báo Tài chính. Mới nghỉ hưu.<br />
Tác phẩm đã xuất bản: Hạnh phúc hôm nay (Ký sự, in chung), Thanh Niên, 1971; Bầu trời Quảng Trị (Truyện ký, in chung), Thanh Niên, 1972; Dư âm (Truyện ngắn, in chung), Lao Động, 1976; Đường chân trời (Tập thơ, in chung), Trẻ, 1989; Dấu vết tháng ngày (Tập thơ) Hội Nhà văn,1991; Trầm tích (Trường ca), Hội Nhà văn 1996, 1999 ( Đã dịch sang Anh ngữ), Quà tặng của hành tinh (Tập thơ), Hội Nhà văn,1999.</strong></em></p>
<p>Hoàng Trần Cương đã nhận các giải thưởng văn học:<br />
- Giải A cuộc vận động viết về lực lượng vũ trang (1970-1972) của Tạp chí Văn nghệ Quân đội với ký sự Hạnh phúc hôm nay.<br />
- Giải Nhất cuộc thi thơ của tuần báo Văn Nghệ 1989-1990 với trường ca Trầm tích và chùm thơ.<br />
- Giải thưởng VHNT Bộ Quốc phòng (1994-1999) trường ca Trầm tích.<br />
- Giải thưởng Hồ Xuân Hương  (5 năm một lần) của Hội VHNT Nghệ Tĩnh  cho trường ca Trầm tích.<br />
(1) Sau khi trường ca Trầm Tích ra đời, phát hành chính thức năm 1999, bài viết trên đây của chúng tôi được công bố trên tạp chí Sông Hương số 142 ra tháng 12-2000, tạp chí Nhà văn đăng lại trên số 2-2001, tác phẩm Trầm tích đoạt 4 giải thưởng quốc gia, đã gây một chấn động lớn trong công chúng bạn đọc và giới văn nghệ cả nước. Trong âm hưởng của tiếng vang đó, báo Văn Nghệ đã mở cuộc tọa đàm về Trầm tích ngày 3-10-2002 tại tòa soạn với rất đông văn nghệ sĩ tham dự. Các nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận phê bình đã phát biểu tại chỗ khá sôi nổi, đánh giá cao Trầm tích. Để bạn đọc biết thêm thông tin, chúng tôi xin trích dẫn một số ý kiến quay quanh cơn địa chấn Trầm tích trong tiến trình thơ Việt Nam hiện đại cuối thế kỷ xx (Thái Doãn Hiểu)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/hoang-tr%e1%ba%a7n-c%c6%b0%c6%a1ng-ng%c6%b0%e1%bb%9di-hoa-gi%e1%ba%a3i-nh%e1%bb%afng-n%e1%bb%97i-ni%e1%bb%81m-khat-v%e1%bb%8dng.xml/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>1</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>MỘT VÀI CẢM NGHĨ NHÂN NGÀY LỄ ĐỘC LẬP</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/m%e1%bb%99t-vai-c%e1%ba%a3m-nghi-nhan-ngay-l%e1%bb%85-d%e1%bb%99c-l%e1%ba%adp.xml</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/m%e1%bb%99t-vai-c%e1%ba%a3m-nghi-nhan-ngay-l%e1%bb%85-d%e1%bb%99c-l%e1%ba%adp.xml#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 29 Aug 2010 23:47:22 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Báo chí]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[QUANG LÂM]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=5086</guid>
		<description><![CDATA[QUANG LÂM (Ba Lan)
Ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba đình lịch sử ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa *, xóa bỏ ách thống trị của thực dân và nền quân chủ chuyên chế, lập nên chế [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><a href="http://lh3.ggpht.com/_yI4S0BU2yDI/TGiPTRNhENI/AAAAAAAADWQ/lrteXLCfIUQ/s1600-h/image%5B3%5D.png"></a><strong>QUANG LÂM (Ba Lan)</strong></p>
<div id="attachment_5089" class="wp-caption alignleft" style="width: 202px"><a rel="attachment wp-att-5089" href="http://nguyentrongtao.org/m%e1%bb%99t-vai-c%e1%ba%a3m-nghi-nhan-ngay-l%e1%bb%85-d%e1%bb%99c-l%e1%ba%adp.xml/bacho"><img class="size-full wp-image-5089" title="bacho" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2010/08/bacho.jpg" alt="" width="192" height="263" /></a><p class="wp-caption-text">2.9.1945</p></div>
<p>Ngày 2-9-1945 tại quảng trường Ba đình lịch sử ở Hà Nội, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đọc bản Tuyên ngôn Độc lập, khai sinh ra nước <strong>Việt Nam Dân chủ Cộng hòa </strong>*, xóa bỏ ách thống trị của thực dân và nền quân chủ chuyên chế, lập nên chế dộ <em>cộng hòa dân chủ</em> &#8211; một bước ngoặt trọng đại trong lịch sử của dân tộc Việt Nam ta.</p>
<p>Mở đầu bản Tuyên ngôn, chủ tịch HCM đã trích dẫn chân lý sáng ngời từ bản Tuyên ngôn Độc lập 1776 của Mỹ và Tuyên ngôn Dân quyền 1791 của Pháp như sau:</p>
<p><strong><em>“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.” </em></strong></p>
<p><strong><em>“Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.</em></strong></p>
<p>Nhiều lúc tôi cứ suy nghĩ tại sao chủ tịch HCM, đã từng hoạt động ở Liên Xô trong Quốc tế Cộng sản, lại không viết bản Tuyên ngôn dựa trên các nguyên lý của chính quyền Xô viét để lập ra chế độ XHCN – một chính quyền công nông, chuyên chính vô sản như Liên Xô?</p>
<p>Hai chữ Liên Xô tên viết tắt của “Liên bang các nước cộng hòa XHCN Xô viết” gợi lại một chính thể độc tài do giai cấp vô sản lãnh đạo. Cụm từ <em>“Dictature du proletariat”</em> hay <em>“Диктатура пролетариата” </em>mà Marx và Lenin đã dùng, là <em>chuyên chính</em> <em>vô sản </em>đồng nghĩa với <em>độc tài</em>. Vậy thì khi thành lập một nước cộng hòa dân chủ không thể thay thế một nền độc tài do vua trị vì (quân chủ chuyên chế) bằng một nền độc tài khác là chuyên chính vô sản được.</p>
<p>Đó là phân tích theo ngữ nghĩa, còn thực tế lịch sử thì như chúng ta đã rõ: đầu thập niên 90 của thế kỷ trước Liên bang Xô viết gồm 15 nước cộng hòa XHCN và các nước XHCN Đông Âu đã hoàn toàn sụp đổ. Cái mô hình không tưởng của Marx đã không thể thực hiện được.</p>
<p>Có lẽ cụ HCM đã nhìn nhận ra vấn đề này từ rất sớm, Thể chế <em>cộng hòa dân chủ</em> mà Mỹ và Pháp thể hiện trong các văn bản tuyên ngôn của mình là hoàn toàn tiến bộ nếu không muốn nói là tiến bộ nhất của loài người cho đến thời điểm hiện nay. Những câu được trích và dùng cho mở đầu của bản Tuyên ngôn Độc lập của nước VN là bất hủ. Tầm nhìn của HCM là tầm nhìn thời đại!</p>
<p>Tôi lại được đọc trong một số tài liệu trên mạng là sau khi giành được độc lập, đầu năm 1946 HCM đã viết thư gửi Tổng thống Mỹ đề nghị Mỹ và Liên Hợp Quốc công nhận và ủng hộ nền độc lập của VN, nhưng Mỹ đã từ chối.</p>
<p>Trong lúc mới thành lập, nước ta còn nhiều thiếu thốn sau nạn đói năm 45, chính quyền còn non trẻ lại phải đối phó với hàng loạt kẻ thù: giặc Pháp lăm le quay lại VN, hàng vạn quân Tưởng ở miền Bắc và quân Anh vào giải giáp quân Nhật ở miền Nam. Tình tình đó có lẽ bắt buộc người cầm đầu Chính phủ dù không muốn cũng phải cầu cứu Liên Xô và sau này với Trung Quốc (Cộng hòa nhân dân Trung Hoa thành lập năm 1949).</p>
<p>Và có lẽ vì thế mà chính thể dân chủ của VN, rất tiếc, đã không thể phát triển theo mô hình của Mỹ, Pháp mà dần dần phải đi theo các mô hình như LX, TQ sau nảy (?)</p>
<p>Một ví dụ đau lòng là năm 1953 VN đã sai lầm phát động Cải cách ruộng đất theo kiểu chống kulac, địa chủ để thành lập hợp tác xã nông nghiệp như kolkhoz hay nông trang tập thể như ở LX và TQ. Để đến nỗi hàng nghìn người bị giết hại, mất tài sản. Và sau đó Chủ tịch HCM đã nhận ra sai lầm đáng tiếc này và đã xin lỗi trước nhân dân năm 1956. Tuy có sửa sai nhưng ruộng đất vẫn không được trả lại cho người chủ sở hữu. Tầng lớp tư sản cũng bị đánh tơi bời, trái với câu trong Tuyên ngôn Độc lập khi lên án chế độ thực dân Pháp: <em>“Chúng không cho các nhà tư sản ta ngóc đầu lên”. </em></p>
<p>Còn ngày nay thì chúng ta lại vinh danh các doanh nhân (lớp tư sản mới) trong chính sách phát triển kinh tế thị trường. Người nông dân mất ruộng, không có công ăn việc làm bởi các “dự án” do các công ty hưởng lợi mà lớp địa chủ mới này lại có quyền bán lại đất đai đó với giá cao gấp 10, 100 lần so với số tiền người nông dân được đền bù.</p>
<p>Về việc xây dựng chính thể dân chủ mới, HCM đã không theo thể chế Dân chủ hội đồng (Xô viết) của Lenin, mà chủ trương bầu cử đại diện theo kiểu phương Tây. Quốc hội đầu tiên được thành lập thông qua tổng tuyển cử tự do đối với những người ứng cử, cũng như đối với cử tri ngày 6/1/1946 với 70 ghế dành cho Việt Quốc và Việt Cách. Người đứng đầu Quốc hội là cụ Bùi Bằng Đoàn (nguyên là Thượng thư bộ Hình triều đình Huế).</p>
<p>Sau đó (2/3/1946) một Chính phủ liên hiệp được lập ra do Chủ tịch HCM đứng đầu cùng với sự tham gia của các nhân sỹ trí thức thuộc nhiều đảng phái khác nhau kể cả quan lại của chế độ cũ (như Phan Kế Toại, nguyên là Khâm sai Bắc Bộ của Chính phủ Trần Trọng Kim, Nguyễn Tường Tam, Đảng Việt quốc, Vũ Đình Hòe, Đảng Dân chủ, Huỳnh Thúc Kháng, Phan Anh, không đảng phái, Võ Nguyên Giáp, Việt minh…). Sự tập hợp này nhằm đảm bảo tính đoàn kết, hòa hợp dân tộc giữa các đảng phái trong nước để thực hiện mục đích chung là <em>“kiến quốc</em>. Vì mục đích cao cả đó, HCM đã sáng suốt chiêu hiền đãi sỹ, thu hút người có tài có đức phục vụ đất nước: &#8220;<em>Nước nhà cần phải được kiến thiết. Kiến thiết cần phải có nhân tài. Trong số 20 triệu đồng bào chắc không thiếu người có tài đức&#8230;</em>&#8221; (Trích thư của Hồ Chủ tịch gửi các địa phương chiêu mộ người hiền tài). HCM quả xứng đáng là một vị lãnh tụ tài giỏi, thông minh mà sau này khó có ai sánh kịp. Đất nước ta ngày nay đang rất cần một lãnh tụ có tầm tư duy như vậy. Không lẽ trong số 85 triệu dân hiện nay lại không có ai có thể đảm trách được việc đó?</p>
<p>Lập nên thể chế cộng hòa hay <em>cộng hòa dân chủ</em> là việc xác lập quyền chủ nhân ông của đất nước. Người chủ đất nước không ai khác mà chính là Dân (không phân biệt thành phần, giới tính, giàu nghèo, dân tộc, tôn giáo…). Và chỉ có Dân mới có <strong>quyền lập hiến</strong>, mà trực tiếp là cử tri cả nước.</p>
<p>Hiến pháp 1946 do HCM trực tiếp làm &#8220;Trưởng Ban soạn thảo&#8221; thể hiện rõ những yếu tố pháp quyền nổi lên trên nguyên tắc quyền lực và tổ chức quyền lực sao cho lạm quyền không thể xảy ra và quyền tự do, dân chủ của nhân dân được bảo vệ.<strong> </strong></p>
<p>TS Nguyễn Sĩ Dũng cho biết: “Theo quy định của Hiến pháp 1946, nước ta không có Quốc hội mà chỉ có Nghị viện nhân dân với nhiệm kỳ ba năm. Như vậy, nếu không có chiến tranh, sau khi thông qua hiến pháp, Quốc hội sẽ tự giải tán để tổ chức bầu Nghị viện nhân dân. Nghị viện nhân dân không thể tự mình sửa đổi Hiến pháp. Mọi sự sửa đổi, bổ sung đều phải đưa ra toàn dân phúc quyết (Điều 70)” (<em>PLTPHCM</em>)</p>
<p>Nói về “ai là chủ đất nước? người chủ đó có những quyền gì?” cựu chủ tịch QH Nguyễn Văn An đã phát biểu trên VNN (24/6/2010) như sau:</p>
<p><em>“Chúng ta đã sửa đổi Hiến pháp nhiều lần rồi song chưa đáp ứng lòng mong đợi của nhân dân, nhân dân chưa có quyền phúc quyết Hiến pháp mà lẽ ra quyền phúc quyết Hiến pháp là quyền đương nhiên của người dân dưới chế độ dân chủ cộng hòa”.</em></p>
<p>“<em>Các lần sửa đổi Hiến pháp sau này có một vài vấn đề cốt lõi lại xa rời hoặc lại không rõ ràng bằng Hiến pháp năm 1946”</em>.</p>
<p>Ngay tại điều 1 của Hiến pháp 1946 đã nổi rõ lên tinh thần Dân là Chủ: <em>&#8220;Nước Việt Nam dân chủ cộng hòa là một nước dân chủ. Tất cả các quyền bính trong nước là của toàn thể nhân dân VN không phân biệt nòi giống, gái trai, giai cấp, tôn giáo”.</em></p>
<p>Điều 32 quy định: <em>&#8220;Những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa nhân dân phúc quyết, nếu 2/3 tống số nghị viên đồng ý&#8221;.</em></p>
<p>Điều 70 quy định: <em>&#8220;Sửa đổi Hiến pháp phải theo cách thức sau đây… Khi được nghị viên ưng chuẩn, phải đưa ra toàn dân phúc quyết&#8221;.</em></p>
<p>Tiếc thay cho đến nay VN vẫn chưa có Nghị viện nhân dân và Luật “trưng cầu dan ý” để thực hiện Quyền phúc quyết của Dân như được ghi rõ tại các điều khoản theo Hiến pháp 1946. Do vậy người Dân thực sự vẫn chưa có quyền lập hiến nghĩa là Dân chưa phải là Chủ.</p>
<p>Mặt khác, theo chủ tịch NVA thì các Hiến pháp sau này đã quy định QH mới có quyền lập hiến: <em>“Song Dân chưa có văn bản nào chuyển quyền lập hiến của Dân sang Quốc hội cả, mà là do chính Quốc hội tự quyết định giao quyền lập hiến cho mình”. “Quốc hội vừa lập hiến, vừa lập pháp, người ta gọi như thế là vừa đá bóng, vừa thổi còi”.</em></p>
<p>Ông NVA lại tiếp: <em>“Hiện nay khoảng 90% đại biểu QH là đảng viên. Do vậy mà nhiều người cho rằng, về hình thức thì QH quyết, song thực chất là Đảng quyết. Quyết định của Quốc hội chỉ là quyết định mở rộng trong nội bộ  Đảng”.</em> Thực sự là Dân đã mất quyền làm Chủ và đó là sự xa rời về bản chất của một chính thể cộng hòa dân chủ.</p>
<p>Sau một thời gian dài của hành trình dân tộc, <em>“những nền móng ban đầu của &#8220;Nhà nước pháp quyền Việt Nam&#8221; đã không được củng cố và xây đắp thành hình hài ngày một rõ nét mà lại dần dà bị chìm đi bởi sự áp đặt của mô hình &#8220;chuyên chính vô sản&#8221; </em>(Tương Lai).</p>
<p>Ngay từ đầu bản Tuyên ngôn, HCM đã khẳng định quyền bình đẳng của tất cả mọi người không ai có thể xâm phạm được: <em>quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc.</em></p>
<p>Điều 12 của Hiến pháp 1946 được viết: <em>&#8220;Quyền tư hữu tài sản của công dân Việt Nam được bảo đảm&#8221;.</em></p>
<p>Hồ chủ tịch cũng đã giải thích một cách dễ hiểu hai tiếng Dân chủ như sau:</p>
<p><em>“Dân chủ là phải để cho Dân được mở miệng”.</em></p>
<p>Nhưng cho đến nay báo chí tư nhân vẫn chưa được phép phát hành. Những phát biẻu cá nhân đều phải tuân theo “lề phải”. Mỗi ý kiến đóng góp phải trái là lẽ đương nhiên vì đôi lúc cái đúng của người này lại là điều sai của kẻ khác, tùy thuộc họ nhìn từ phía nào. Ngạn ngữ có câu: “Nói oan làm quan mà nói”. Có được phê phán, phản biện mới có tiến bộ, xã hội mới công bằng và mới mong phát triển văn minh. Trời Phật còn bị chê trách huống chi người thường! HCM khi ký hòa ước với Pháp còn bị mang tiếng là phản quốc.</p>
<p>* * *</p>
<p>Thiển nghĩ, giá như hồi ấy (1946) Mỹ quyết định giúp VN theo đề nghị của HCM thì đất nước ta ngày nay chắc đã đổi khác biết bao nhiêu. Đất nước VN đã không phải chịu đau thương suốt hơn 30 năm chiến tranh. Hàng triệu người Việt đã không phải đổ máu dù ở phía bên này hay bên kia. Và chắc chắn VN không bị lạc hậu, nghèo đói như ngày hôm nay. Nhân dân chúng ta chắc đã được sung sướng ít ra cũng như Hàn Quốc, Đài Loan… đúng như trong Tuyên ngôn Độc lập đã viết là mọi người đều được quyền sống, quyền tự do, dân chủ và mưu cầu hạnh phúc. Nền độc lập cũng đã được đảm bảo bền vững hơn, và không thường xuyên bị đe dọa bởi “nước lạ” nay lấn đất mai lấn biển với “16 chữ vàng” và “4 tốt”.</p>
<p>Tình hình tại thời điểm hiện nay có vẻ đã khả quan hơn. Lòng yêu nước truyền thống của dân tộc ta, nhất là trong lớp trẻ đã được khơi dậy. Người trí dũng đã có cơ hội đóng góp cho Dân cho Nước như trên mạng <em>Boxitvn</em>. Cục diện thế giới gần đây có nhiều biến đổi. Nhất là sau các cuộc Hội thảo ARF diễn đàn ASEAN vừa qua và đặc biệt là lời tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ Hillary Clinton ngày 23/7/2010 tại Hà Nội về vấn đề Biển Đông. Bà Ngoại trưởng Mỹ nói rằng vì quyền lợi của quốc gia, Hoa Kỳ mong muốn thấy các nước liên quan đến vụ tranh chấp chủ quyền ở Hoàng Sa và Trường Sa giải quyết với nhau bằng đường lối ôn hòa, dựa trên sự tôn trọng các điều khoản được ghi trong Công ước về biển và lãnh hải do Liên Hiệp Quốc soạn thảo.</p>
<p>Trong dịp kỷ niệm 15 năm bình thường hóa quan hệ Việt – Mỹ, tàu sân bay USS John S. McCain <strong>thuộc Hạm đội 7 Thái Bình Dương của Hải quân Hoa Kỳ đã viếng thăm chính thức cảng Tiên Sa, Đà Nẵng ngày 10/8/2010. </strong>Trung tá hải quân Jeffrey Kim, Hạm trưởng của tàu nhấn<strong> </strong>mạnh tại buổi lễ tiếp đón rằng, sự xuất hiện của các chiến hạm Mỹ tại các hải cảng VN có ý nghĩa đặc biệt về mặt chiến lược đối với quốc gia này, đồng thời chứng tỏ thế quân bình trên lãnh vực quốc phòng tại khu vực.</p>
<p>Thượng Nghị sỹ John McCain nói chuyến thăm của khu trục hạm mang tên cha ông tới VN là tín hiệu <em>&#8220;lịch sử và đầy hy vọng&#8221;</em> cho quan hệ giữa hai nước cựu thù, và VN đã trở thành một trong những “<em>đối tác quan trọng nhất và hứa hẹn nhất của Mỹ trong khu vực châu Á – Thái Bình Dương</em>”. “<em>Tôi tin rằng, cuối cùng thì hai nước chúng ta cùng với nhau sẽ làm tăng thêm an ninh, sự thịnh vượng, và một ngày, tôi hy vọng, về sự tự do của tất cả các nước và các dân tộc ở châu Á-Thái Bình Dương</em>”, ông nói.</p>
<p>Hải quân Hoa Kỳ cũng đã tiếp đón một đoàn đại biểu quân sự và các viên chức Chính phủ VN trên tàu sân bay USS George Washington khổng lồ. Tàu này chạy bằng năng lượng hạt nhân, có thể mang tới 70 máy bay, hơn 5.000 thủy thủ và phi công và khoảng 4 triệu kg bom đang tuần tra ở vùng biển ngoài khơi bờ biển miền Trung VN.</p>
<p>Quả vậy, quan hệ Mỹ &#8211; Việt đang ngày càng phát triển tốt đẹp hơn và hiểu nhau hơn so với thời điểm cách đây 65 năm, khi chủ tịch HCM viết thư gửi Tổng thống Mỹ. Hai nước đã bỏ qua quá khứ và xích lại gần nhau để trở thành đối tác, là bạn của nhau. Nhiều kết quả đã đạt được trong hợp tác văn hóa, ngoại giao, thương mại, năng lượng hạt nhân, quân sự…</p>
<p>Lịch sử không lặp lại, nhưng có cái gì đó muốn nói rằng từ năm 1945 HCM đã suy nghĩ và hành động đúng khi chọn lựa thể chế <em>cộng hòa dân chủ</em> cho VN, viết bản Tuyên ngôn Độc lập bắt đầu bằng những câu trích từ Tuyên ngôn của Mỹ và sau đó yêu cầu Mỹ ủng hộ và giúp đỡ Chính phủ VN. Nếu điều mong ước ấy của Chủ tịch HCM dù 65 năm sau mới được thực hiện thì chắc rằng linh hồn cụ cũng sẽ lấy làm mãn nguyện nơi suối vàng.</p>
<p>Và có thể nói tầm nhìn của HCM là tầm nhìn thế kỷ, có thể so với tầm nhìn của Thái Tổ Lý Công Uẩn khi xuống chiếu dời đô từ Hoa Lư ra Đại La và đổi tên thành Thăng Long cách nay 1000 năm. Những biến động thăng trầm sau 1945 của lịch sử đâu có phải do sự sai sót của cái ý tưởng ban đầu. Cũng như Thăng Long đổi thành Hà Nội là do vua Minh Mạng (1831) muốn xóa đi cái tên Thăng Long và chuyển kinh đô về Phú Xuân &#8211; Huế đó thôi. Hy vọng rồi đây đất nước lại chuyển mình quay về với ý tưởng ban đầu của HCM, cũng như Thủ đô đã quay về với Hà Nội. Đất nước nghìn năm văn hiến VN sẽ có những bước tiến mới nếu những người có trách nhiệm với dân tộc luôn nhận biết được thời cơ vàng và sáng suốt như chủ tịch HCM.</p>
<p>GS Tương Lai đã từng nhận định như sau: “Sự vận động của thực tiễn đã trả về cho cái nền tảng ban đầu ấy sức thuyết phục và ý nghĩa sâu sắc của tầm cao trí tuệ và bề dày văn hóa trong tư duy về Nhà nước của Hồ Chí Minh”.</p>
<p>Sắp đến ngày kỷ niệm Quốc khánh 2/9, chắc mọi người sẽ lại vào viếng lăng chủ tịch HCM tại Quảng trường Ba Đình lịch sử. Xin hãy bước đi chậm rãi và chớ cúi đầu xuống đất mà nên ngước nhìn lên dòng chữ vàng khắc trước cửa lăng: <strong><em>“Không có gì quý hơn độc lập tự do”</em></strong>.</p>
<p>Và hãy cùng nhau suy ngẫm cho kỹ những điều Người đã dạy:</p>
<p><strong><em>“Nếu nước được Độc lập mà Dân không được hưởng Tự do, Hạnh phúc thì Độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì”.</em></strong></p>
<p><strong>“<em>Trên đời ngàn vạn điều cay đắng</em> <em>/ Cay đắng chi bằng mất tự do”</em></strong></p>
<p><em>“<strong>Dân chủ</strong> <strong>là phải để cho Dân được mở miệng</strong>”.</em></p>
<p><strong>Quang Lâm</strong></p>
<p><em>&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;&#8212;</em></p>
<p><em>(*) đáng lý ra theo văn phạm tiếng Việt phải viết là Cộng hòa Dân chủ Việt Nam. Ví dụ: “Cộng hòa nhân dân Trung Hoa” (vp tiếng Việt) còn “Trung Hoa nhân dân Cộng hòa” (vp tiếng Trung).</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/m%e1%bb%99t-vai-c%e1%ba%a3m-nghi-nhan-ngay-l%e1%bb%85-d%e1%bb%99c-l%e1%ba%adp.xml/feed</wfw:commentRss>
		<slash:comments>8</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>
