<?xml version="1.0" encoding="UTF-8"?>
<rss version="2.0"
	xmlns:content="http://purl.org/rss/1.0/modules/content/"
	xmlns:wfw="http://wellformedweb.org/CommentAPI/"
	xmlns:dc="http://purl.org/dc/elements/1.1/"
	xmlns:atom="http://www.w3.org/2005/Atom"
	xmlns:sy="http://purl.org/rss/1.0/modules/syndication/"
	xmlns:slash="http://purl.org/rss/1.0/modules/slash/"
	>

<channel>
	<title>Nguyễn Trọng Tạo</title>
	<atom:link href="http://nguyentrongtao.org/feed/" rel="self" type="application/rss+xml" />
	<link>http://nguyentrongtao.org</link>
	<description>H ộ i  N g ộ  V ă n  C h ư ơ n g</description>
	<lastBuildDate>Sat, 04 Feb 2012 09:12:20 +0000</lastBuildDate>
	<language>en</language>
	<sy:updatePeriod>hourly</sy:updatePeriod>
	<sy:updateFrequency>1</sy:updateFrequency>
	<generator>http://wordpress.org/?v=3.0.1</generator>
		<item>
		<title>NHÀ VĂN SƠN TÙNG VÀ LẼ SỐNG KHÔNG ĐỂ “HOÀNG KIM HẮC THẾ TÂM”</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/2012/02/04/nha-van-s%c6%a1n-tung-va-l%e1%ba%bd-s%e1%bb%91ng-khong-d%e1%bb%83-%e2%80%9choang-kim-h%e1%ba%afc-th%e1%ba%bf-tam%e2%80%9d/</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/2012/02/04/nha-van-s%c6%a1n-tung-va-l%e1%ba%bd-s%e1%bb%91ng-khong-d%e1%bb%83-%e2%80%9choang-kim-h%e1%ba%afc-th%e1%ba%bf-tam%e2%80%9d/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 04 Feb 2012 09:12:16 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chuyện Làng Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Làng văn]]></category>
		<category><![CDATA[HIẾU TRÌNH]]></category>
		<category><![CDATA[Sơn Tùng]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=17131</guid>
		<description><![CDATA[HIẾU TRÌNH Trên website Hội Nhà văn Việt Nam (http://vanvn.net/news/20/1465-nhung-lan-gap-go-anh-hung-nha-van-son-tung.html), báo Nông nghiệp Việt Nam (http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/11/11/88648/Nhung-lan-gap-go-anh-hungnha-van-Son-Tung.aspx) và blog của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn (http://lethieunhon.com/read.php/5621.htm), đăng tải bài viết của nhà văn Văn Chinh: NHỮNG LẦN GẶP GỠ ANH HÙNG NHÀ VĂN SƠN TÙNG. Sau khi nhắc lại những lần gặp gỡ với Nhà văn [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>HIẾU TRÌNH</strong></p>
<p>Trên website Hội Nhà văn Việt Nam (<a href="http://vanvn.net/news/20/1465-nhung-lan-gap-go-anh-hung-nha-van-son-tung.html">http://vanvn.net/news/20/1465-nhung-lan-gap-go-anh-hung-nha-van-son-tung.html</a>), báo Nông nghiệp Việt Nam (<a href="http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/11/11/88648/Nhung-lan-gap-go-anh-hungnha-van-Son-Tung.aspx">http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/72/11/11/88648/Nhung-lan-gap-go-anh-hungnha-van-Son-Tung.aspx</a>) và blog của nhà thơ Lê Thiếu Nhơn (<a href="http://lethieunhon.com/read.php/5621.htm">http://lethieunhon.com/read.php/5621.htm</a>), đăng tải bài viết của nhà văn Văn Chinh: NHỮNG LẦN GẶP GỠ ANH HÙNG NHÀ VĂN SƠN TÙNG.</p>
<div id="attachment_17132" class="wp-caption aligncenter" style="width: 510px"><a rel="attachment wp-att-17132" href="http://nguyentrongtao.org/2012/02/04/nha-van-s%c6%a1n-tung-va-l%e1%ba%bd-s%e1%bb%91ng-khong-d%e1%bb%83-%e2%80%9choang-kim-h%e1%ba%afc-th%e1%ba%bf-tam%e2%80%9d/sontung-7/"><img class="size-full wp-image-17132" title="SonTung" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2012/02/SonTung.jpg" alt="" width="500" height="280" /></a><p class="wp-caption-text">Nha văn Sơn Tùng - Ảnh Nguyễn Đình Toán</p></div>
<p>Sau khi nhắc lại những lần gặp gỡ với Nhà văn Sơn Tùng (cả khi khỏe mạnh cũng như lúc ông đau ốm), đoạn cuối bài viết của mình nhà văn Văn Chinh dành một khoảnh đất để nói lại việc Gia đình Nhà văn Sơn Tùng từ chối nhận Giải thưởng Nhà nước. Sự việc này, về phía gia đình Nhà văn Sơn Tùng, từ vợ ông &#8211; bà Phan Hồng Mai cho đến các con ông – Bùi Sơn Long, Bùi Sơn Định đều không muốn nhắc đến nữa, việc gì đã qua thì cho qua. Tất nhiên khi cả gia đình đều không muốn nhắc đến thì trong bài viết của mình tôi cũng không nhắc lại diễn biến sự việc chẳng lấy gì làm hay ho ấy trong cách đối nhân xử thế với một nhà văn thương binh chỉ còn 19% sức khỏe, lâm trọng bệnh tai biến mạch máu não, phải qua một trận chiến kiên cường với tử thần để trở về với cuộc sống, dù hiện nay ông vẫn bị liệt nửa người bên phải, tiếng nói hãy còn chưa tròn rõ hẳn.</p>
<p>Nhà văn Văn Chinh đã có lời khuyên anh Bùi Sơn Long – con trai trưởng của Nhà văn Sơn Tùng rằng:</p>
<p>“<strong><em>chỉ vài năm sau lại đến lượt xét giải; anh cùng gia đình nên nhận, dù là Giải Nhà nước. Thứ nhất, để khẳng định một lần nữa với một thế lực nào đó rằng Sơn Tùng không xuyên tạc hình ảnh lãnh tụ như họ đã định tạo thành một vụ án năm 1992 &#8211; 93 và định lập hồ sơ khởi tố. Ông cụ đã phải viết thư lên cụ Đỗ Mười nói xưa Mỹ bắn tôi không chết, giờ đồng đội đang bắn tôi, cụ Đỗ Mười đã mời Sơn Tùng lên và cụ đã làm rõ, minh oan cho nhà văn. Thứ hai, để những thân nhân nghèo của Sơn Tùng có một món tiền. Tôi biết anh không thiếu tiền, nhưng với bà chị hay chú em út nghèo xác nghèo xơ, món tiền 120 triệu là rất đáng kể; với bà Phan Hồng Mai, hơn 40 năm chia sẻ cùng ba anh xiết bao khổ cực, một khoản tiền nhỏ của Nhà nước tưởng thưởng cũng ít nhiều an ủi</em></strong>”.</p>
<p>Đọc đến đây, tôi nhớ ngay đến những ngày còn khỏe mạnh, Nhà văn Sơn Tùng vẫn thường hay nhắc đến một câu răn dạy của người xưa: <strong>Làm con người sống trên đời này, đừng để HOÀNG KIM HẮC THẾ TÂM</strong>. Ông giải thích cho tôi 5 chữ “<strong>HOÀNG KIM HẮC THẾ TÂM</strong>” ấy là: vàng bạc, tiền của, làm đen, làm ố, làm bẩn trái tim và lòng dạ của con người. Có lẽ thấu hiểu đạo lý ấy từ rất sớm, cho nên cả cuộc đời ống sống thanh bần, đạm bạc. Người ngoài nhìn vào cuộc sống của gia đình ông chỉ thấy nghèo – cái nghèo vật chất, và cũng rất nhiều người thấy ở ông có cái giàu của “<em>bậc đại phú</em>” &#8211; ấy là giàu nhân, giàu nghĩa, giàu tình cảm. “Nghèo nhân nghèo nghĩa thì lo, nghèo tiền nghèo của chẳng cho là nghèo”. Phải chăng vì thế cho nên kể từ khi bị thương ở chiến trường miền Đông Nam Bộ (15-4-1971) được cáng vượt Trường Sơn trở ra đất Bắc, cho đến ngày ông phải nhập viện vì bạo bệnh (26-6-2010), bấm đốt ngón tay là tròn 40 năm, ông sống trong tình nghĩa và sự yêu thương đùm bọc của bạn bè. Đời ông là đi “ăn mày chữ” [chữ dùng của Nhà văn Sơn Tùng] nhưng ông luôn giữ trong mình cốt cách của ông đồ Nghệ không bao giờ nhận cái gì không phải của mình, với tiền bạc ông lại càng thận trọng.</p>
<p>Chuyện Nhà văn Sơn Tùng từ chối nhận căn hộ do Thủ tướng Phạm Văn Đồng cấp cho ông những năm 1980 báo chí đã nhắc nhiều. Tôi chỉ viết thêm một câu chuyện mà bạn hữu Chiếu Văn của ông đều biết: Đầu những năm 1990, Nhà báo Yramaki – người Nhật Bản – đến làm việc với ông, cảm phục sức làm việc của người thương binh Sơn Tùng, lại cám cảnh cho ông phải ở trong một căn phòng làm việc quá chật hẹp, thiếu thốn mọi bề, Nhà báo Yramaki thành tâm có nhã ý tặng Nhà văn Sơn Tùng một số tiền trị giá nghìn đô la Mỹ. Nhưng Nhà văn Sơn Tùng đã cảm tạ tấm thịnh tình và lòng chân thành của Nhà khoa học – Nhà báo Yramaki mà từ chối món tiền có giá rất lớn thời bấy giờ.</p>
<p>Cả cuộc đời đến nay đã 85 tuổi, Nhà văn Sơn Tùng có rất nhiều ƯU TIÊN, nhưng lại THIẾU MẤT DẤU HUYỀN.</p>
<p>Ông là người mê sách, nhà ông tuy chật chội nhưng sách thì chứa đầy trong phòng, ngoài nhà, vút lên cả trên gác. Mỗi khi anh chị em, con cháu đưa ông đi mua sách, là bà Phan Hồng Mai lại phải dặn ông: <strong><em>Anh nhớ này, đây là tờ 100.000, đây là tờ 50.000, đây là tờ 20.000, đây là tờ 10.000</em></strong>…. bởi vì ông đâu có để ý mà biết mặt đồng tiền. Lương của ông là chuyên viên bậc 2, suốt hai chục năm không tăng một bậc, ông chỉ nhớ năm 1967 trước khi ông vào chiến trường là 110 đồng, còn sau này là bao nhiêu thì ông không hề chú ý đến.</p>
<p>Tôi viết ra những điều trên để muốn nhấn vào một câu của nhà văn Văn Chinh: “<strong><em>món tiền 120 triệu [Giải thưởng Nhà nước] là rất đáng kể</em></strong>”. Đúng, số tiền đó “<strong><em>là rất đáng kể</em></strong>” nhưng có lẽ đối với Nhà văn Sơn Tùng và gia đình ông, việc nhận cái gì của ai – nhất là tiền bạc, không phải thế nào cũng nhận, khi đã không CHÍNH DANH thì lại càng không thể nhận. Năm 1992, khi Thành đoàn Hà Nội làm cho Nhà văn Sơn Tùng căn nhà tình nghĩa, ngày 22-7-1992 ông đã viết thư gửi <strong>Ban Thường vụ Thành đoàn Thanh niên Hà Nội</strong> xin cảm tạ và từ chối. Xin trích lại nguyên văn một đoạn trong thư:</p>
<p>“Việc Thành đoàn xây dựng nhà tình nghĩa tặng tôi, một cán bộ Đoàn lâu năm, một thương binh ¼, đó là nghĩa cử cao cả, là tấm lòng cao thượng của toàn thể cán bộ đoàn viên, đội viên thanh thiếu nhi Thủ đô Hà Nội dành cho tôi. Tôi vô cùng biết ơn. Cho nên tôi đã nhờ Hội Nhà văn Việt Nam cử cán bộ đến Thành đoàn bày tỏ lòng biết ơn của tôi và đề đạt lý do tôi xin được: Không nhận ngôi nhà này.</p>
<p>Tôi cũng đã trình bày cặn kẽ sự tình với đồng chí Bí thư Thành đoàn Nguyễn Mạnh Cường và hai đồng chí Chánh, Phó Văn phòng Thành đoàn. Cho đến giờ phút này vẫn đinh ninh: Rất biết ơn thanh thiếu nhi Thủ đô, nhưng tôi không thể đến ở ngôi nhà dựng lên đã không đúng như biên bản cuộc họp liên tịch giữa các đại diện UBND quận Đống Đa với UBND phường Văn Chương và tôi. Hơn nữa, căn nhà này dựng lên trên mảnh đất mà tiếng kêu ca: “<em>Ông Sơn Tùng là thương binh, tôi cũng là thương binh, sao chính quyền lại lấy mảnh đất của tôi đã bỏ nhiều công sức san lấp để làm nhà tình nghĩa cho ông Sơn Tùng?</em>”.</p>
<p>Năm 2009, Hội Nhà văn Việt Nam đưa 2 tác phẩm của ông là <strong><em>Bông sen vàng</em></strong> và <strong><em>Cuộc gặp gỡ định mệnh</em></strong> (tên trong lần xuất bản đầu tiên là <strong><em>Mẹ về</em></strong>, tái bản lần 2 đổi gọi <strong><em>Bác về</em></strong>) vào nhận giải thưởng cuộc thi <em>Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh</em>. Đọc xong những dòng tin trên báo Văn nghệ &#8211; Hội Nhà văn Việt Nam, số 15 (2568), ngày 11-4-2009, trang 2, công bố: <em>“… 73 tác giả, tác phẩm văn học nghệ thuật của các tập thể và cá nhân được quyết định trao tặng thưởng”, </em>ngày 19-4-2009<em> </em>Nhà văn Sơn Tùng viết thư gửi GS.TS Phùng Hữu Phú, Uỷ viên Trung ương Đảng, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Tuyên giáo Trung ương, Trưởng ban chỉ đạo cuộc vận động sáng tác và quảng bá các tác phẩm văn học nghệ thuật về chủ đề <em>“Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” </em><strong>XIN ĐƯỢC MIỄN “TRAO TẶNG THƯỞNG”</strong><em> </em>với lý do:</p>
<p>“Hai tác phẩm <em>“<strong>Bông sen vàng</strong>”, “<strong>Cuộc gặp gỡ định mệnh</strong>”</em> đã có một đời sống hàng chục năm tuổi rồi, nó không thuộc diện trong sáng tác Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, cho nên tôi tha thiết xin được miễn “tặng thưởng tác phẩm <strong><em>Bông sen vàng; Cuộc gặp gỡ định mệnh</em></strong><em>”</em>.</p>
<p>Xin kể thêm một câu chuyện nhân nói đến tiền. Có những nhà xuất bản, in những tác phẩm của Nhà văn Sơn Tùng, cho đến nay sau nhiều năm vẫn chưa thanh toán tiền nhuận bút cho ông. Dù số tiền nhuận bút ấy chỉ đôi ba triệu. Mà mỗi lần có sách xuất bản hay tái bản, ông đều mua vài chục, có khi cả trăm cuốn để tặng bạn bè, anh em, con cháu. Tôi biết rằng có những gia đình phải gọi điện hoặc chính người nhà đến đòi, nếu không cơ quan xuất bản họ cứ lờ lớ lơ đi. Có lần tôi đề nghị với ông bà gọi điện đến nhắc, nhưng ông gạt đi, khi nào họ mang đến thì mang, còn nếu họ không mang thì ông cũng cho qua. Phương châm xử thế ấy của ông, đến nay khi ông đau ốm bà Phan Hồng Mai vẫn làm theo như khi ông còn khỏe mạnh, dù vẫn có nơi đã 3-4 năm “vẫn quên” chưa thanh toán tiền nhuận bút cho ông.</p>
<p>Việc nhà văn Văn Chinh khuyên anh Bùi Sơn Long – con trai trưởng Nhà văn Sơn Tùng: “<strong><em>chỉ vài năm sau lại đến lượt xét giải; anh cùng gia đình nên nhận, dù là Giải Nhà nước… món tiền 120 triệu là rất đáng kể; với bà Phan Hồng Mai, hơn 40 năm chia sẻ cùng ba anh xiết bao khổ cực, một khoản tiền nhỏ của Nhà nước tưởng thưởng cũng ít nhiều an ủi</em></strong>” khiến tôi có một chút băn khoăn. Bao năm được qua lại hầu chuyện Nhà văn Sơn Tùng như vậy, không biết có lần nào Văn Chinh đã từng được nghe Sơn Tùng nói một câu: “Mua danh ba vạn, bán danh ba… xu” (chứ không được nổi ba đồng), hay không? Còn tôi thì được nghe ông nhắc nhiều lần với bạn hữu Chiếu Văn. Nhà văn Văn Chinh khuyên thân nhân của một nhà văn – anh hùng lao động – làm một việc ảnh hưởng đến danh dự như vậy “vẫn chỉ xoay quanh một chữ TIỀN” thì nghe nó chua chua xót xót, nghe nó có cái giọng kẻ cả, giọng mặc cả với người khác về số tiền “<strong><em>là rất đáng kể</em></strong>” ấy. Hẳn nhà văn Văn Chinh chưa có vinh hạnh được chứng kiến Nhà văn Sơn Tùng một tay chống cằm, bàn tay kia gõ gõ xuống sàn Chiếu Văn mà cười mỉm đọc trầm lại câu thơ của Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều rằng: “<strong>Bả vinh hoa câu khách công khanh</strong>” khi nghe những chuyện “nén bạc đâm tọac tờ giấy”, những chuyện “có mùi hơi đồng” mà ông vốn rất kỵ, luôn phải tránh xa.</p>
<p>Cuối cùng vẫn là một câu chuyện liên quan đến Tiền. Tháng 7-2011, Nhà văn Sơn Tùng được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động. Theo Quy định về đối tượng và tiêu chuẩn danh hiệu Anh hùng lao động, và Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân trong thời kỳ đổi mới (Ban hành theo Quyết định số 38/1999 QĐ-TTg ngày 6 tháng 3 năm 1999 của Thủ tướng Chính phủ), tập thể hay cá nhân được Nhà nước phong tặng danh hiệu Anh hùng Lao động sẽ được nhận số tiền thưởng tương đương là mức lương cơ bản x 15 lần. Nhưng trong ngày 22-7-2011 (ngày Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức Lễ đón nhận Danh hiệu Anh hùng Lao động cho Nhà văn Sơn Tùng, tại trụ sở Hội – số 9 Nguyễn Đình Chiểu – Hà Nội), theo tôi được biết một cán bộ của Hội Nhà văn Việt Nam, mới trao cho con trai Nhà văn Sơn Tùng 5.000.000 (năm triệu đồng) hiện vật (phong bì) kèm theo Bằng chứng nhận Danh hiệu Anh hùng Lao động. Không biết số tiền mà gia đình Nhà văn Sơn Tùng được hưởng theo chế độ của một Anh hùng như vậy đã đúng và đủ hay chưa? Nếu chưa đúng và đủ thì hình như Nhà nước còn nợ ông một số tiền “<strong><em>là rất đáng kể</em></strong>” – theo như cách nói của nhà văn Văn Chinh.</p>
<p>Có lẽ bà Phan Hồng Mai và gia đình cũng không coi chuyện này là cái gì ghê gớm, vẫn theo phương châm “<strong>Làm con người sống trên đời này, đừng để HOÀNG KIM HẮC THẾ TÂM</strong>” chứ nếu phải gia đình khác, ai dám bảo là họ không lên đòi Nhà nước phải thanh toán số tiền nợ của công dân mà thân nhân của họ quá xứng đáng được hưởng (nếu đúng như vậy)?</p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em>Tiết Mạnh xuân năm Nhâm Thìn, 2012 </em></strong><strong><em></em></strong></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/2012/02/04/nha-van-s%c6%a1n-tung-va-l%e1%ba%bd-s%e1%bb%91ng-khong-d%e1%bb%83-%e2%80%9choang-kim-h%e1%ba%afc-th%e1%ba%bf-tam%e2%80%9d/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>GỌI THẦM TRONG ĐÊM</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/2012/02/01/g%e1%bb%8di-th%e1%ba%a7m-trong-dem/</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/2012/02/01/g%e1%bb%8di-th%e1%ba%a7m-trong-dem/#comments</comments>
		<pubDate>Tue, 31 Jan 2012 18:14:10 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thơ]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ Việt]]></category>
		<category><![CDATA[NGUYỄN THÁI SƠN]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=17125</guid>
		<description><![CDATA[NGUYỄN THÁI SƠN Gọi thầm trong đêm                      (Nguyễn Thái Sơn tặng NTT)          Tôi thương thành phố này dù bạn chưa đến không còn ở đây tàu qua Đập Đá sông Hương trăng sữa buồn cam chịu          trôi xuôi buông xuôi                                       không dậy sóng dằng dặc những đoàn người rũ đất [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong></p>
<div id="attachment_17126" class="wp-caption aligncenter" style="width: 595px"><a rel="attachment wp-att-17126" href="http://nguyentrongtao.org/2012/02/01/g%e1%bb%8di-th%e1%ba%a7m-trong-dem/sontao1/"><img class="size-full wp-image-17126 " title="SonTao1" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2012/02/SonTao1.jpg" alt="" width="585" height="401" /></a><p class="wp-caption-text">Nhà thơ Nguyễn Thái Sơn và NTT bên sông Hương 1994</p></div>
<p></strong></p>
<p><strong>NGUYỄN THÁI SƠN</strong></p>
<h2><span style="color: #993300;">Gọi thầm trong đêm</span> <em> </em></h2>
<p>                   (Nguyễn Thái Sơn tặng NTT)</p>
<p><em>         </em></p>
<p><em>Tôi thương thành phố này</em></p>
<p><em>dù bạn chưa đến</em></p>
<p><em>không còn ở đây</em></p>
<p><em>tàu qua Đập Đá </em></p>
<p><em>sông Hương trăng sữa buồn </em></p>
<p><em>cam chịu </em></p>
<p><em>         trôi xuôi buông xuôi</em></p>
<p><em>                                      không dậy sóng</em></p>
<p><em>dằng dặc những đoàn người rũ đất rẽ nước trồi lên</em></p>
<p><em>ngơ ngác</em></p>
<p><em>chẳng hiểu vì sao không được sống ?!&#8230;</em></p>
<p><em>                                         </em></p>
<p><em>Gọi thầm đêm</em></p>
<p><em>gọi thầm bạn</em></p>
<p><em>gọi thầm em</em></p>
<p><em> - người thiếu phụ không phải không thể không nỡ của mìn!</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Hành quân đến đâu đánh trận ở đâu ngã xuống ở đâu</em></p>
<p><em>chúng mình không chọn lựa</em></p>
<p><em>bản thảo rơi vãi sau mỗi trận bom </em></p>
<p><em>yên bình</em></p>
<p><em>những người lính làm thơ chỉ biết làm thơ</em></p>
<p><em>làm chồng</em></p>
<p><em>làm bố</em></p>
<p><em>người lên trung du kẻ ra vùng mỏ</em></p>
<p><em>bạn cư ngụ Huế </em></p>
<p><em>tôi dạt vào Nam.</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Thương nhớ khôn nguôi xứ Bắc cội rễ bao đời</em></p>
<p><em>những mảnh đồng nát hằn vết móng tay cậy cháy cơm khoai</em></p>
<p><em>chiếc niêu đất đựng núm rốn cuống nhau</em></p>
<p><em>                                                 cha vùi gốc tre gai</em></p>
<p><em>những cánh diều chưa nhả hết dây </em></p>
<p><em>                      toạc giấy gẫy tre chòng chành ngược gió…</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Dạ cổ hoài lang, Nam ai, Nam bằng</em></p>
<p><em>buồn như Ví dặm</em></p>
<p><em>ngậm ngùi Bèo dạt mây trôi</em></p>
<p><em>nhớ Bắc tôi tựa gốc sầu riêng</em></p>
<p><em>bạn ngồi mòn gốc đa thương Huế</em></p>
<p><em>văn liền mạch câu thơ nối nhịp</em></p>
<p><em>phương Nam phương Bắc nóng lạnh chẳng cùng mùa</em></p>
<p><em>kẻ trước người sau</em></p>
<p><em>bạn về Bắc</em></p>
<p><em>tôi làm sao xa lìa sông Đáy sông Châu đất lề quê thói !</em></p>
<p><em> </em></p>
<p><em>Mai này</em></p>
<p><em>thỏa thuê gió bấc mưa phùn mắm cua nước vối</em></p>
<p><em>có những đêm áo nhàu khuy đứt</em></p>
<p><em>quặn lòng thắt dạ</em></p>
<p><em>nhớ thương nắng gió phương Nam…</em></p>
<p><em></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/2012/02/01/g%e1%bb%8di-th%e1%ba%a7m-trong-dem/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Cùng Trần Dần «rong ruổi ngã ba mùa»</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/cung-tr%e1%ba%a7n-d%e1%ba%a7n-%c2%abrong-ru%e1%bb%95i-nga-ba-mua%c2%bb/</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/cung-tr%e1%ba%a7n-d%e1%ba%a7n-%c2%abrong-ru%e1%bb%95i-nga-ba-mua%c2%bb/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 30 Jan 2012 16:54:58 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Báo chí]]></category>
		<category><![CDATA[Chuyện Làng Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Làng văn]]></category>
		<category><![CDATA[Sự kiện - Đối thoại]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[Phong Điệp]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Dần]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=17112</guid>
		<description><![CDATA[Cùng Trần Dần «rong ruổi ngã ba mùa»  Phong Điệp thực hiện  Nhân dịp Carnets Poussières (Sổ Bụi) của Trần Dần qua bản dịch của Đoàn Cầm Thi ra mắt trên tạp chí Po&#38;sie, chủ nhật ngày 15 tháng 10 vừa qua, tại Nhà Thờ Paris &#8211; Maison de la Poésie, đã diễn ra buổi [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div id="attachment_17113" class="wp-caption aligncenter" style="width: 586px"><a rel="attachment wp-att-17113" href="http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/cung-tr%e1%ba%a7n-d%e1%ba%a7n-%c2%abrong-ru%e1%bb%95i-nga-ba-mua%c2%bb/trandan-2/"><img class="size-full wp-image-17113 " title="TranDan" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2012/01/TranDan.jpg" alt="" width="576" height="383" /></a><p class="wp-caption-text">Từ trái sang: nhà thơ Trần Dần, dịch giả Đòan Cầm Thi, nhà văn Thuận</p></div>
<h1 style="text-align: justify;"><span style="color: #993300;">Cùng Trần Dần «rong ruổi ngã ba mùa»</span> </h1>
<p><span style="font-size: medium;"><strong>Phong Điệp</strong> thực hiện</span> </p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000080;"><strong>Nhân dịp Carnets Poussières (Sổ Bụi) của Trần Dần qua bản dịch của Đoàn Cầm Thi ra mắt trên tạp chí Po&amp;sie, chủ nhật ngày 15 tháng 10 vừa qua, tại Nhà Thờ Paris &#8211; Maison de la Poésie, đã diễn ra buổi đọc thơ Trần Dần, dưới sự chủ trì của nhà thơ Claude Mouchard, phó tổng biên tập tạp chí Po&amp;sie. </strong></span></p>
<p style="text-align: justify;"><span style="color: #000080;"><strong>Văn nghệ Trẻ đã trò chuyện cùng dịch giả Đoàn Cầm Thi, nhà thơ Claude Mouchard và họa sĩ Trần Trọng Vũ về sự kiện này.</strong></span></p>
<p> </p>
<p><span style="font-size: large;"><strong>Dịch giả Đoàn Cầm Thi:</strong></span></p>
<p><span style="font-size: large;">Dịch Trần Dần, tôi luôn ở bên bờ vực<strong> </strong></span></p>
<p><strong> </strong> </p>
<p><strong>Tiến sĩ văn học Pháp ĐH Paris VII, PGS Học viện văn minh và ngôn ngữ phương Đông Paris, Đoàn Cầm Thi đã từng dịch M.Duras ra tiếng Việt, và nhiều tác giả Việt sang Pháp văn, trong đó có Dương Hướng, Võ Thị Hảo, Thuận, Nguyễn Việt Hà, Bùi Hoằng Vị, Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Bình Phương, Đỗ Kh., Trần Vũ, Võ Thị Xuân Hà, Bùi Chát, Lý Đợi.</strong></p>
<p><em><span style="font-size: medium;">Thưa chị Đoàn Cầm Thi, vì sao chị chọn dịch Trần Dần ?</span></em></p>
<p><span style="font-size: medium;">Dịch Trần Dần, luôn là điều ám ảnh tôi. Nhưng ám ảnh này không đuổi được ám ảnh khác : Làm sao dịch được Trần Dần ? Dịch thế nào chỉ đoạn này thôi <em>« để để &#8211; để. Để làm gì ôi vần zương cômic nhặng xị múa lửa. 3 bụi 5 bụi jữa sáng láng hằng hà thiên hà lai láng hằng hà nhật nguyệt »</em> ? Đã bao lần tôi chứng kiến Trần Dần khó hiểu với cả những người cùng ngôn ngữ với ông. Cứ dùng dằng giữa các ám ảnh như vậy nhiều năm tháng, nhưng những lúc tuyệt vọng, tôi lại đọc ông : <em>« Hạnh fúc cần chi nhiều thứk? 1 tí rêu. 1 hạt cát sa mạc. Không gì vẫn bát ngát khát khao &#8211; vẫn xạc xào thơ &#8211; vẫn kì cạch chữ »</em>. </span></p>
<p><em><span style="font-size: medium;">Cảm xúc của chị ngày hôm nay ?</span></em></p>
<p><span style="font-size: medium;">Dịch Trần Dần, tôi luôn ở bên bờ vực. Dịch Trần Dần, tôi ao ước được một hạt giống, như lời nhắn nhủ của Phạm Thị Hoài hơn mười năm trước: <em>« những ai may mắn đến lấy một hạt giống ở ông, rồi đem về đất của chính mình, đổ sức của chính mình vào đó thì ắt là thành công».</em> Cho đến bây giờ, khi mang thơ Trần Dần <em>rong ruổi ngã ba mùa</em>, tôi lại cảm thấy cái nhìn hóm hỉnh của ông như ngày nào : « Cái con bé này ! ».</span></p>
<p><em><span style="font-size: medium;">Theo chị, điều thú vị nhất trong buổi đọc thơ Trần Dần vừa qua là gì?</span></em></p>
<p><span style="font-size: medium;">Trong buổi giới thiệu Trần Dần, một số trích đoạn thơ của ông (“Nhất định thắng” và “Sổ bụi”) được đọc xen kẽ bằng song ngữ. Chúng tôi chủ trương phần tiếng Việt phải được đọc như đọc báo vậy, nghĩa là tránh thể hiện mọi giai điệu cùng mọi cảm xúc theo kiểu <em>ngâm thơ</em>, <em>tự tình thơ</em> hay <em>trình diễn thơ</em> thường thấy ở Việt Nam. Thơ của Trần Dần mạnh mẽ ở chính những con chữ của ông, vậy nó cần gì phải trang trí tô điểm bên ngoài ? Mặt khác, cách đọc giản dị như thế này gần gũi nhất với lối đọc thị giác, bởi vì khi đọc bằng mắt bạn đâu có ngân nga ca hát. Dĩ nhiên người nghe không hiểu gì tiếng Việt nhưng họ cần một chút khái niệm về nhịp điệu của ngôn ngữ gốc, mà một trong những đặc thù của tiếng Việt lại chính là các đơn âm và những con dấu.</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">Đọc xen kẽ bằng song ngữ như vậy nhằm cung cấp cho người nghe hai cách đọc đồng thời: bản tiếng Việt thay thế cho việc đọc bằng thị giác (vốn được xem như một yêu cầu không thể bỏ qua trong thơ Trần Dần), còn bản tiếng Pháp cung cấp nội dung cho những gì mà người nghe vừa “nhìn thấy”.</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">Đọc xen kẽ bằng song ngữ như vậy có lẽ đưa được người nghe từ vị trí “khán giả” thành “độc giả”.</span><br />
<em><span style="font-size: medium;">Trần Dần là một nhà thơ lớn của Việt Nam. Tầm tư tưởng của ông, ngôn ngữ đặc sắc của ông, phong cách độc đáo của ông còn “làm khó” ngay cho cả những độc giả trong nước. Vậy ở Pháp thì sao? Liệu công chúng Pháp có thưởng thức được nghệ thuật Trần Dần ?</span></em></p>
<p><span style="font-size: medium;">Theo tôi thưởng thức nghệ thuật phải là một môn học cho tất cả chúng ta. Đứng trước một bài vật lý sơ đẳng lớp mười tôi đoán chắc đại đa số chúng ta những người lớn, đều cảm thấy khó thở hoặc không hiểu gì cả ngay từ những ký hiệu vật lý. Để thưởng thức vật lý, như vậy chỉ có một cách duy nhất là học vật lý (không phải để trở thành nhà vật lý, đương nhiên). Để thưởng thức nghệ thuật cũng chỉ có một cách duy nhất là học thưởng thức nghệ thuật (dĩ nhiên không vì mục đích trở thành nghệ sĩ). Tôi hy vọng, công chúng Pháp, đã từng (học) đón nhận nhiều tác phẩm nghệ thuật hóc búa nằm bên ngoài khả năng thưởng thức của họ, sẽ khám phá Trần Dần như một trong những nhà thơ cách tân nhất và cực đoan nhất của thời đại ông. </span></p>
<p><strong><span style="font-size: large;">Nhà thơ Claude Mouchard :</span></strong></p>
<p><span style="font-size: large;">Quyền năng thơ của Trần Dần  đang áp đảo tôi</span></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Nhà thơ Claude Mouchard, từng là giáo sư Đại học Paris 8, hiện là phó tổng biên tập tạp chí danh tiếng chuyên về thơ Po&amp;sie (Pháp). Ông đã dịch Wallace Stevens và Bishop từ tiếng Anh, Rilke, Nelly Sachs và Walser từ tiếng Đức. Claude Mouchard cũng từng hợp tác dịch các nhà thơ Yoshimazu Gôzô và Tôge Sankichi của Nhật, Yi Sang và Ki Hyung-do của Hàn Quốc.</strong></p>
<p style="text-align: center;"><span style="font-size: medium;"><em>Từ trái sang: Dịch giả Đòan Cầm Thi, họa sĩ Trần Trọng Vũ và nhà thơ<br />
Claude Mouchard, phó tổng biên tập tạp chí Po&amp;sie.</em><br />
</span><br />
<em><strong><img id="yui_3_4_0_3_1319767013562_550" class="aligncenter" style="border: 0px;" src="http://farm7.static.flickr.com/6045/6287332881_5f30f6568b_z.jpg" border="0" alt="P1070737" width="576" height="324" /></strong></em><strong> </strong> </p>
<p><em><span style="font-size: medium;">Thưa nhà thơ Claude Mouchard, xin ông cho biết điều gì làm ông xúc động nhất ở Trần Dần ? Số phận hay tác phẩm của nhà thơ ? </span></em></p>
<p><span style="font-size: medium;">Cả hai : tôi đã khám phá cùng một lúc cuộc đời và thơ của Trần Dần, nhờ dịch giả Đoàn Cầm Thi. Trong những bài thơ của Trần Dần mà tôi đã đọc qua bản dịch của Đoàn Cầm Thi, người ta cảm nhận một mối liên hệ, gần như bất biến và vô cùng đau đớn, giữa thời gian cá nhân và thời gian tập thể. Tuy nhiên, dù cho mối liên hệ này có mạnh mẽ thế nào chăng nữa, thì chỉ quyền năng thơ của Trần Dần là đang áp đảo tôi khi tôi đọc những dòng tuyệt đẹp của “Cột đèn câm” :  </span></p>
<p><span style="font-size: medium;">Vào đời</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">tất cả</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">chỉ có vé: đồng hạng</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">mọi thứ đặc quyền đều</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">sặc sụa bất công.</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">Tôi có vệ tinh</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">rồi có nhà ga xanh</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">nhà ga tím</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">trong một vũ trụ</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">chẳng hiền lành.</span></p>
<p><strong> .</strong> </p>
<p><span style="font-size: medium;">Cái lồng chim quá chật</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">tôi bay đâu</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">cũng đụng đầu.</span></p>
<p><strong>. </strong> </p>
<p><span style="font-size: medium;">Tôi có khả năng im lặng</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">như một cột đèn câm</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">đầu phố thơ ngây.</span></p>
<p><em> </em> </p>
<p><em><span style="font-size: medium;">Là  nhà thơ, ông chia sẻ với Trần Dần tâm trạng “tôi không iên ổn với tôi” ?      </span></em></p>
<p><span style="font-size: medium;">Vâng, “Tôi không iên ổn với tôi”, câu thơ của Trần Dần thật dữ dội. Nó luôn ở bên tôi và có lẽ sẽ là tựa một bài thơ tôi viết trong tương lai. Để là một nhà thơ như Trần Dần, chính là lục xục, ngày và đêm. Hay nói như chính Trần Dần : “Chết đi tôi vẫn mất ngủ. Bên kia tôi vẫn mộng du ngày”.  Thi sĩ Tiệp Vladimir Holan cũng nói : “Trong thơ, không ai được miễn bao giờ”. </span></p>
<p><em><span style="font-size: medium;">Trần Dần viết trong Sổ Bụi 1980-1981 rằng thơ là “chấn động hằng xuyên”. Ông nghĩ gì về điều đó ?</span></em></p>
<p><span style="font-size: medium;"><em> </em>Thơ là “chấn động hằng xuyên”, nhưng với ai? Với chính thi sĩ ? Hay với nhân loại và thời đại của thi sĩ ? Một nhà thơ như Trần Dần có khả năng gây ra trong thơ những rung chuyển và những đứt gãy đang xảy ra trong thế giới mà anh ta đang sống.  </span></p>
<p><span style="font-size: medium;">Tuy nhiên, để được, và mãi mãi được, là “chấn động hằng xuyên”, thơ phải được đọc. Chính chúng ta phải làm tất cả để đạt được điều đó.</span></p>
<p><em><span style="font-size: medium;">Là thi sĩ và cũng là dịch giả của nhiều nhà thơ thế giới đương đại, ông muốn mang lại điều gì cho công chúng Pháp ngữ, khi quyết định in Trần Dần trong tạp chí Po&amp;sie ? </span></em></p>
<p><strong><em> </em></strong> </p>
<p><span style="font-size: medium;">Dịch, như Đoàn Cầm Thi đang làm, hơn bao giờ hết là điều thiết yếu. Bên cạnh đó, cũng thiết yếu không kém, là công việc hòa âm phối khí. Có nghĩa là, qua những bài giới thiệu và phê bình, làm thế nào vẽ lại hành trình mà các bài thơ đã đi qua, giữa các ngôn ngữ, giữa những thế giới và những thời đại, giữa vô vàn cuộc đời. </span></p>
<p><span style="font-size: medium;">Về phần tôi, tôi sẽ không bao giờ ngừng nhớ đến những câu thơ của Trần Dần. Cái tựa, “Sổ bụi”, chẳng hạn, làm sao có thể quên nổi ? Ước gì tôi có thể dùng nó để chỉ công việc của mình hôm nay ! Ước gì tôi « ăn cắp » được của Trần Dần mấy chữ này thôi ! Điều đó nói lên sự quyến luyến của tôi, kể từ nay, với ông.</span></p>
<p><span style="font-size: large;"><strong>Họa sĩ Trần Trọng Vũ:</strong></span></p>
<p><span style="font-size: large;">Sẽ đưa di cảo Trần Dần đến với độc giả một cách có hệ thống</span> </p>
<p><strong>Trần Trọng Vũ, con trai út cố thi sĩ Trần Dần,  nghệ sĩ thị giác, sống và làm việc ở Pháp. Anh là một trong những nghệ sĩ nhận giải của quỹ Pollock-Krasner<br />
2011-2012, có trụ sở tại New York.</strong></p>
<p><span style="font-size: medium;"><em>Bên cạnh thơ, thì văn xuôi Trần Dần cũng thực sự là một trái núi lớn. Thưa anh Trần Trọng Vũ, với tư cách là người soạn di cảo Trần Dần, anh có thể cho biết liệu sau đêm thơ Trần Dần vừa diễn ra, sẽ có một buổi đọc văn Trần Dần nữa hay không?</em></span></p>
<p><span style="font-size: medium;">Một trong những quan tâm của tôi, ở vị trí một người soạn di cảo Trần Dần, là làm sao lý giải sự chia cách của văn xuôi và thơ trong tác phẩm của ông. Tôi không dám chắc, rằng đã tồn tại một cuộc chia cách thực sự. Nói đúng hơn, làm văn xuôi hay làm thơ với ông đều chỉ đơn giản là “viết”. Thực ra, tất cả mọi phẩm chất mà độc giả tìm thấy trong văn xuôi của ông đều được ông làm trong thơ, nhưng ở một lộ trình cao hơn, cực đoan hơn và dĩ nhiên khó khăn hơn rất nhiều cho độc giả. Ví dụ nhân vật Dưỡng của “Những ngã tư và những cột đèn” gần đây thực ra không xa lạ gì nhiều với nhân vật thằng Truồng của “Jờ Joạcx”, bởi cả hai đều đa căn cước, đều thông minh mà lại dại khờ&#8230; Còn ở trường hợp các “Sổ bụi”, chúng là thơ, chúng cũng là văn xuôi.</span></p>
<p><em><span style="font-size: medium;">Thưa anh Trần Trọng Vũ, gia đình anh có ý định lập một “bảo tàng tư nhân” về cha mình không? Ngoài sự cảm phục của người con đối với cha, anh học được điều gì ở cha mình?</span></em></p>
<p><span style="font-size: medium;">Thực ra, mỗi thành viên của gia đình tôi đã mang trong mình một “bảo tàng tư nhân rồi”. “Tư nhân” ở trong mọi nghĩa của nó, có thể nhìn thấy có thể không nhìn thấy, có thể kể được bằng lời nhưng cũng có thể không thể kể được, bằng bất cứ mọi phương thức diễn đạt nào. Và “tư nhân” đến mức chưa một nhân vật có thẩm quyền đến gõ cửa đòi công bố nội dung của bảo tàng cho tất cả cùng biết. Chúng tôi nghĩ đơn giản hơn nhiều, là lần lượt cùng bạn bè đưa di cảo này đến với độc giả, dĩ nhiên một cách có hệ thống.</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">Tôi đã học gì từ cha tôi? Tất cả các bậc cha mẹ dù ý thức hay vô thức, đều chuẩn bị cho con cái họ một cuộc sống, và cuộc sống này tự nó sẽ dậy cho thế hệ đến sau những gì cần thiết để làm người, và để không làm người, để nói yêu và, để có thể nói ghét. Cuộc sống mà tôi nhận được vô cùng khó hiểu, đã cho tôi muôn vàn bài học và kết quả là muôn vàn những phản xạ có điều kiện và không điều kiện. Những bài học này không bao giờ dừng lại cùng với ngày hôm nay.</span></p>
<p><span style="font-size: medium;">Bài đã đăng báo Văn nghệ Trẻ số 44/2011</span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/cung-tr%e1%ba%a7n-d%e1%ba%a7n-%c2%abrong-ru%e1%bb%95i-nga-ba-mua%c2%bb/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>ĐỘC QUYỀN CHÂN LÝ (BẢN GỐC)</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/d%e1%bb%99c-quy%e1%bb%81n-chan-ly-b%e1%ba%a3n-g%e1%bb%91c/</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/d%e1%bb%99c-quy%e1%bb%81n-chan-ly-b%e1%ba%a3n-g%e1%bb%91c/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 30 Jan 2012 15:17:26 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Báo chí]]></category>
		<category><![CDATA[Sự kiện - Đối thoại]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[NGÔ BẢO CHÂU]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=17107</guid>
		<description><![CDATA[Đây là bản gốc của bài phỏng vấn trên báo Tuổi trẻ cuối tuần với nhan để &#8220;Không có ai độc quyền chân lý&#8221;. *** Nhân dịp chào xuân Nhâm Thìn, Giáo sư Ngô Bảo Châu đã trải lòng với Tuổi Trẻ Cuối tuần những suy nghĩ của ông về vai trò phản biện của [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em><a rel="attachment wp-att-17108" href="http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/d%e1%bb%99c-quy%e1%bb%81n-chan-ly-b%e1%ba%a3n-g%e1%bb%91c/ngobaochau-2/"><img class="alignleft size-medium wp-image-17108" title="NgoBaoChau" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2012/01/NgoBaoChau-300x168.jpg" alt="" width="300" height="168" /></a>Đây là bản gốc của bài phỏng vấn trên báo Tuổi trẻ cuối tuần với nhan để &#8220;</em><strong>Không có ai độc quyền chân lý&#8221;.</strong></p>
<p><strong>***</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #000080;">Nhân dịp chào xuân Nhâm Thìn, Giáo sư Ngô Bảo Châu đã trải lòng với Tuổi Trẻ Cuối tuần những suy nghĩ của ông về vai trò phản biện của trí thức cũng như giải pháp đòn bẩy có sẵn ngay trong những điểm bất hợp lý… </span><img title="More..." src="http://nhathonguyentrongtao.wordpress.com/wp-includes/js/tinymce/plugins/wordpress/img/trans.gif" alt="" /></strong></p>
<p><strong>Giải pháp có sẵn ở điểm bế tắc</strong></p>
<p><em>PV &#8211; Thưa giáo sư, lần đầu tiên kể từ khi thành danh ở xứ người, năm qua giáo sư đã dành thời gian làm việc tại quê nhà suốt 3 tháng ròng. Trong 3 tháng đó có gì làm cho giáo sư thất vọng hay ngược lại, giáo sư có điều gì để hy vọng? </em></p>
<p>NGÔ BẢO CHÂU &#8211; Thực ra không có gì phải thất vọng đâu chị, mặc dù khi tôi về mọi việc thật ngổn ngang. Tháng 6/2011, bộ máy hành chính của viện Nghiên cứu Cao cấp (NCCC) về Toán mới bắt đầu hoạt động. Khi ta muốn xây dựng một cái gì từ con số không, thì khó khăn là tất yếu. GS Lê Tuấn Hoa, Giám đốc Điều hành của viện và tôi đã xác định trước là mình phải rất cố gắng trong giai đoạn này.</p>
<p>Hy vọng thì nhiều. Qua dịp hè vừa rồi, tôi cảm thấy thấy sự ủng hộ của Chính phủ dành cho Viện là tương đối chắc chắn. Tuy thế những khó khăn mang tính chất hành chính thì vẫn muôn hình vạn vẻ, nhưng tôi hy vọng là giai đoạn này cũng sẽ chóng kết thúc để năng lượng được dồn vào những việc thực sự bổ ích là làm khoa học.</p>
<p>Cái không dễ chút nào chúng tôi là giải thích với các Bộ có chức năng rằng khoa học thực sự, đặc biệt là khoa học cơ bản rất khó làm được trên nguyên tắc đơn đặt hàng. Vai trò của Viện là nhìn thấy những nhóm nghiên cứu mới có tiềm năng, hỗ trợ cho họ về cơ sở vật chất, môi trường làm việc. Tôi rất hy vọng là trong thời gian tới sẽ có nhiều nhà khoa học chủ động đến với Viện với những dự định mà mình ấp ủ.</p>
<p>Nói như vậy không có nghĩa là Vieện NCCC không chú trọng những đơn đặt hàng nghiên cứu toán ứng dụng. Đây là một hướng mà chúng tôi mong muốn sẽ làm được ngày một nhiều trong tương lai.</p>
<p><em>Hè 2011 cũng là thời gian giáo sư dành nhiều thời gian để giao lưu với giới trẻ nhiều tỉnh thành. Những cuộc giao lưu đó mang đến cho giáo sư những cảm xúc như thế nào và các bạn trẻ ấy có tạo được những ấn tượng đặc biệt với giáo sư?</em></p>
<p>Cảm xúc mạnh nhất là niềm vui khi cảm thấy dường như mình đang mang đến cho các bạn trẻ được cái gì tốt đẹp, ít nhất là niềm tin vào một cái gì đó tốt đẹp.</p>
<p>Ấn tượng tích cực nhất tôi có được trong những buổi gặp gỡ đó, là tính hướng thiện của các bạn trẻ. Còn có một sự khác biệt tương đối rõ nét giữa những người trưởng thành mà tôi quen biết với các bạn trẻ mà tôi gặp trong các buổi giao lưu. Nếu như nhiều người tôi quen, những người có vị trí xã hội, có thành công trong sự nghiệp hoặc đơn giản là rất giàu, có một cái nhìn rất bi quan về thực tế xã hội thì các bạn trẻ vẫn tràn trề lạc quan và đầy niềm tin vào tương lai.</p>
<p><em>Không chỉ các bạn trẻ trong nước đang chờ mong nhiều ở giáo sư mà nhiều bạn trẻ đang làm nghiên cứu sinh ở nước ngoài cho biết, họ hy vọng viện NCCC về Toán sẽ là mồi nhóm để thổi bùng ngọn lửa đam mê khoa học trong giới nghiên cứu, từ đó thay đổi môi trường làm việc trong các trường đại học. Giáo sư nghĩ sao? </em></p>
<p>Tôi nghĩ rằng ngọn lửa đam mê khoa học thì đã có sẵn trong nhiều bạn trẻ rồi. Vấn đề là làm thế nào biến những ngọn lửa đó thành những nhà khoa học chuyên nghiệp. Tôi hy vọng Viện NCCC về Toán sẽ làm được việc đó, đầu tiên là với toán, toán ứng dụng, sau đó là những ngành khoa học có liên quan đến toán như khoa học máy tính, vật lý lý thuyết. Nhưng với qui mô nhỏ của Viện, chúng ta không thể chờ đợi nó giải quyết mọi vấn đề (rất nhiều) của khoa học Việt nam. Nếu ta muốn thực sự thay đổi diện mạo của khoa học Việt Nam, theo tôi nghĩ cái cần làm nhất (mà chắc ai cũng biết) là đặt chất lượng nghiên cứu khoa học lên như một nhiệm vụ ưu tiên hàng đầu của các trường đại học. Tất nhiên, nếu tính chất ưu tiên hàng đầu không phải là nói suông, thì nó sẽ kéo theo nhiều chính sách khác.</p>
<p>Nói đến chuyện thay đổi chính sách là tôi lại băn khoăn. Hình như cái mà ta làm cho đến nay là thấy cái gì chưa ổn thì ta sửa lại, sắp xếp lại, mà ít để ý đến sự vận động tự nhiên của cuộc sống.</p>
<p><em>Giáo sư có thể giải thích rõ hơn nhận xét này được không? </em></p>
<p>Đơn cử hai vấn đề có tính thời sự hiện nay là việc phát triển mạng lưới ĐH và lương giáo viên. Căn cứ vào tỉ lệ số lượng sinh viên trên tổng số người ở độ tuổi đi học, ta nhận thấy Việt Nam có một tỉ lệ rất thấp so với các nước khác, đã phát triển hoặc đang phát triển. Ta suy ra rằng cần phải có thêm bao nhiêu sinh viên, mở thêm bao nhiêu trường ĐH. Câu chuyện này thoạt nghe thì có vẻ rất đơn giản, mạch lạc. Cũng giống như lương giáo viên, ai cũng thấy là nó rất thấp, không đủ để giáo viên tái tạo sức lao động, vì vậy cần phải tăng lương cho giáo viên và công nhân viên chức nói chung. Đặt ra vấn đề như vậy là rất đúng rồi, nhưng phương pháp luận trong việc giải quyết vấn để thì có thể chưa ổn.</p>
<p>Thay vì ồ ạt mở thêm trường đại học, nâng cấp cao đẳng lên đại học, hoặc là tăng lương công chức một cách đồng loạt, nên chăng coi đó như là một xu hướng để nhân cái đà đó mà cải thiện chất lượng các trường, cải thiện năng suất và chất lượng lao động của công chức nhà nước. Nói cách khác, những cái bất hợp lý hiện tại có thể làm đòn bẩy cho tương lai, làm điểm tựa cho những vận động tích cực của xã hội. Tôi cũng hiểu là bàn chung chung như thế này thì dễ, làm cụ thể như thế nào khó hơn nhiều. Nhưng rõ ràng những biện pháp thuần túy mang tính hành chính sẽ làm triệt tiêu cái đòn bẩy, lợi thế duy nhất của sự bất hợp lý.</p>
<p>Trong chuyện tăng lương cũng vậy. Tôi cảm thấy hình như việc tăng lương đồng loạt cho viên chức không cải thiện mức sống của họ mà chỉ làm tăng lạm phát. Chính phủ có thể tác động lên thu nhập của giáo viên bằng những qui định cơi mở và minh bạch hơn. Tôi lấy ví dụ chuyện chạy trường mà ai cũng biết. Liệu có thể cho phép một số trường tốt có một cơ số học sinh trái tuyến với qui định minh bạch mức lệ phí, có thể rất cao cho học sinh trái tuyến ? Tiền lệ phí được thu một cách minh bạch có thể sử dụng trả một mức phụ cấp cho giáo viên một cách minh bạch. Phụ cấp có thể thấp, cao hoặc rất cao tùy thuộc vào năng lực của giáo viên. Câu chuyện này thực chất đang xảy ra trong thực tế nhưng dưới những hình thức không minh bạch. Nếu có qui định rõ ràng, nhà nước cũng sẽ có thêm phương tiện để điều chỉnh.</p>
<p><strong>Không ai độc quyền chân l</strong>ý</p>
<p><em>Gần đây phong trào phản biện của giới trí thức ngày càng sôi nổi. Thậm chí người ta còn cho rằng người lao động trí óc sẽ chưa đạt tầm của một trí thức nếu chỉ biết làm công việc chuyên môn của mình mà chưa bộc lộ được năng lực phản biện xã hội. Còn giáo sư thì suy nghĩ thế nào về trách nhiệm phản biện xã hội của giới trí thức cũng như vai trò của giới trí thức trong xã hội?</em></p>
<p>Tôi không đồng ý với việc coi phản biện xã hội như chỉ tiêu để được phong hàm “trí thức”. Đến bao giờ chúng ta mới thôi thi đua để được phong hàm “trí thức” ?</p>
<p>Đối với tôi, trí thức là người lao động trí óc. Cũng như những người lao động khác, anh ta cần được đánh giá trước hết trên kết quả lao động của mình. Theo quan niệm của tôi, giá trị của trí thức là giá trị của sản phẩm mà anh ta làm ra, không liên quan gì đến vai trò phản biển xã hội.</p>
<p>Một mặt khác, cần trân trọng những người trí thức, hoạc không trí thức, tham gia công tác phản biện xã hội. Không có phản biện, xã hội đã chết lâm sàng.</p>
<p>Những người có học, có tri thức thực ra cần phải rất tỉnh táo khi tham gia vào việc phản biện xã hội. Học hàm học vị không thể đảm bảo rằng cái anh nói ra, mặc nhiên đúng. Với thói quen làm việc khoa học của mình, cái mà anh có thể làm là đưa ra những lập luận vững chắc và có tính thuyết phục. Nhà lãnh đạo văn minh, có bản lĩnh sẽ biết lắng nghe những lập luận đó. Họ có thể làm theo hoặc không làm theo kết luận của anh. Trong trường hợp họ không làm theo, vẫn dưới giả thiết là lãnh đạo văn minh và có bản lĩnh, lãnh đạo cũng sẽ phải đưa ra những lập luận ít nhất cũng vững chắc bằng những lập luận của anh để bảo vệ quyết định của mình.</p>
<p>Tôi quan niệm vai trò của trí thức là như vậy, anh ta có vai trò gây sức ép lên người lãnh đạo, nhưng cũng như lãnh đạo, anh ta không độc quyền chân lý.</p>
<p><em>Giáo sư có nói cần khuyến khích mọi thành phần trong xã hội phát biểu ý kiến của mình và lãnh đạo phải lắng nghe tất cả những ý kiến đó. Nhưng điều quan trọng là cuối cùng lãnh đạo cần phải có một quyết định, vậy việc quyết định nên căn cứ vào đâu?</em></p>
<p>Nếu có một thuật toán để ra quyết định trong mọi trường hợp thì chắc không cần đến lãnh đạo nữa mà thay bằng một cái máy tính. Người lãnh đạo có bản lĩnh sẽ có những hành động nhất quán, chứ không được chăng hay chớ. Đi cùng với sự nhất quán là tính chủ quan, ở đây nếu lắng nghe ý kiến phản biện, người lãnh đạo sẽ tránh được những sai lầm không thể cứu vãn. Theo tôi phẩm chất quan trọng nhất của người lãnh đạo là tính lương thiện, ít nhất là lương thiện vừa đủ để không tự lừa mình bằng những điều viển vông và không tự bao biện cho những sai lầm của mình.</p>
<p>Để tận dụng được cái khả năng suy nghĩ của trí thức, lãnh đạo nên chăng chia sẻ thông tin với họ để nhận được lời tư vấn tốt nhất trước khi đưa ra quyết định?</p>
<p>Đối với người lãnh đạo, chia sẻ thông tin là một việc khó, như từ bỏ một phần quyền lực của mình. Thông tin hoàn toàn mở, anh lãnh đạo sẽ phải tranh luận với anh trí thức trong tình huống cân bằng vũ trang và chưa chắc anh lãnh đạo đã thắng.<br />
Nhưng thực ra, cởi mở thông tin, tranh luận với trí thức, với những người nằm ngoài bộ máy chính là một cách tiếp năng lượng cho anh lãnh đạo, vẫn với giả thiết lãnh đạo văn minh và có bản lĩnh. Để làm được việc, anh lãnh đạo luôn phải phụ thuộc vào bộ máy của mình. Nếu không cởi mở, dừng tranh luận, những quyết định của anh sẽ dần dần chịu ảnh hưởng của bộ máy, phục vụ lợi ích của bộ máy chứ không ưu tiên phục vụ xã hội nữa.</p>
<p><em>Năm qua là năm có nhiều hoạt động phản biện của giới trí thức trong nước cũng như ngoài nước. Nhiều bản kiến nghị về các vấn đề vĩ mô đã được các trí thức ký tên gửi các lãnh đạo cấp cao của Đảng và Nhà nước. Giáo sư đánh giá thế nào về các hoạt động này? Là một trí thức, giáo sư có muốn đóng góp tiếng nói của mình vào trào lưu chung đó? </em></p>
<p>Cá nhân tôi thường tránh bàn luận các vấn đề mà tôi không biết rõ. Tôi quan tâm nhiều hơn tới những lĩnh vực mà tôi có thể trực tiếp tham gia hành động thay vì chỉ nêu ý kiến. Nhưng tôi cho rằng, việc đưa ra các phản biện có lập luận chặt chẽ … là những đóng góp lớn cho xã hội, cho đất nước của giới trí thức. Tuy nhiên, trước khi lên tiếng về một vấn đề nào đó, người trí thức hơn ai hết cần phải hết sức ý thức về ảnh hưởng của nó. So sánh thì rất khập khiễn vì thường thì chúng ta không nói đến chuyện sống chết. Nhưng tôi luôn nhớ câu Chế Lan Viên viết trong bài thơ Ai? Tôi?: “Mậu Thân 2.000 người xuống đồng bằng, Chỉ một đêm, còn sống có 30, Ai chịu trách nhiệm về cái chết 2.000 người đó? Tôi! Tôi – người viết những câu thơ cổ võ, Ca tụng người không tiếc mạng mình, trong mọi cuộc xung phong”.</p>
<p><em>Cảm ơn giáo sư!</em></p>
<p><strong>Thư Hiên</strong> (thực hiện)<br />
Nguồn <a href="http://ngobaochau.wordpress.com/2012/01/30/d%e1%bb%99c-quy%e1%bb%81n-chan-ly/" target="_blank">Blog Sổ tay học toán của Ngô Bảo Châu</a></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/d%e1%bb%99c-quy%e1%bb%81n-chan-ly-b%e1%ba%a3n-g%e1%bb%91c/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>CHƯƠNG TRÌNH HOẠT ĐỘNG LIÊN HOAN THƠ CHÂU Á LẦN THỨ NHẤT VÀ NGÀY THƠ VN LẦN THỨ X</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/ch%c6%b0%c6%a1ng-trinh-ho%e1%ba%a1t-d%e1%bb%99ng-lien-hoan-th%c6%a1-chau-a-l%e1%ba%a7n-th%e1%bb%a9-nh%e1%ba%a5t-va-ngay-th%c6%a1-vn-l%e1%ba%a7n-th%e1%bb%a9-x/</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/ch%c6%b0%c6%a1ng-trinh-ho%e1%ba%a1t-d%e1%bb%99ng-lien-hoan-th%c6%a1-chau-a-l%e1%ba%a7n-th%e1%bb%a9-nh%e1%ba%a5t-va-ngay-th%c6%a1-vn-l%e1%ba%a7n-th%e1%bb%a9-x/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 30 Jan 2012 05:59:07 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Báo chí]]></category>
		<category><![CDATA[Sự kiện - Đối thoại]]></category>
		<category><![CDATA[Tin văn]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[HỘI NHÀ VĂN]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=17102</guid>
		<description><![CDATA[CẦM KỲ  BẰNG HOẠT ĐỘNG CHUẨN BỊ CHO LIÊN HOAN THƠ CHÂU Á LẦN THỨ NHẤT VÀ NGÀY THƠ VN LẦN THỨ X, sáng ngày mùng 6 tết, tức thứ bảy ngày 28.1.2012, trong khi khắp nơi mọi người vẫn đang vui xuân thì các nhà văn và cán bộ công nhân viên công tác [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>CẦM KỲ</strong><strong> </strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #000080;"><a rel="attachment wp-att-17103" href="http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/ch%c6%b0%c6%a1ng-trinh-ho%e1%ba%a1t-d%e1%bb%99ng-lien-hoan-th%c6%a1-chau-a-l%e1%ba%a7n-th%e1%bb%a9-nh%e1%ba%a5t-va-ngay-th%c6%a1-vn-l%e1%ba%a7n-th%e1%bb%a9-x/cotho-4/"><img class="alignleft size-full wp-image-17103" title="coTho" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2012/01/coTho1.jpg" alt="" width="251" height="201" /></a>BẰNG HOẠT ĐỘNG CHUẨN BỊ CHO LIÊN HOAN THƠ CHÂU Á LẦN THỨ NHẤT VÀ NGÀY THƠ VN LẦN THỨ X, sáng ngày mùng 6 tết, tức thứ bảy ngày 28.1.2012, trong khi khắp nơi mọi người vẫn đang vui xuân thì các nhà văn và cán bộ công nhân viên công tác tại cơ quan Hội Nhà văn Việt Nam đã có mặt đông đủ để làm việc.</span></strong></p>
<p>Nhà thơ Hữu Thỉnh, Chủ tịch Ủy ban toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học Nghệ thuật Việt Nam, Chủ tịch Hội Nhà văn Việt Nam, thay mặt lãnh đạo Hội gửi lời chúc đầu xuân tới các nhà văn, các cán bộ công nhân viên cơ quan đầu não của Hội Nhà văn Việt Nam, tặng phong bao lì xì; đồng thời phổ biến công tác trọng tâm trong năm mới.</p>
<p>Đặc biệt, toàn thể cơ quan Hội đều đã sẵn sàng “ra quân” cho Liên hoan Thơ Châu Á lần thứ nhất, Giao lưu với các nhà thơ Châu Á, và Ngày Thơ Việt Nam lần thứ X.</p>
<p>Nhà thơ Đỗ Hàn, Chánh Văn phòng Hội Nhà văn VN báo cáo tình hình chuẩn bị cho Liên hoan Thơ Châu Á lần thứ Nhất và Ngày Thơ Việt Nam lần thứ X. Đây là một chuỗi ngày thơ, bắt đầu từ ngày 10 tết (tức 1.2.2012) &#8211; đón khách quốc tế từ sân bay Nội Bài, đưa xuống Quảng Ninh, cho đến hết ngày rằm Nguyên tiêu (tức ngày 6.2.2012).</p>
<p><strong>Lịch trình được ấn định như sau:</strong></p>
<p><strong>- Ngày 1.2.2012: Đón đại biểu tại KS Grand Hạ Long &#8211; Quảng Ninh</strong></p>
<p><strong>- Ngày 2.2.2012, tức ngày 11 tết: Khai mạc Liên hoan Thơ tại Quảng Ninh; Hội thảo “Thơ ca vì một Châu Á-Thái Bình Dương hòa bình, đoàn kết, hữu nghị, hợp tác và phát triển”</strong></p>
<p><strong>- Ngày 3.2.2012: Tiếp tục Hội thảo; Đêm thơ Quốc tế</strong></p>
<p><strong>- Ngày 4.2.2012: Thăm làng gốm Bát Tràng; Đêm dạ hội Thơ tại Văn Miếu Quốc Tử Giám.</strong></p>
<p><strong>- Ngày 5.2.2012, tức 14 tết: Khai mạc Ngày Thơ Việt Nam lần thứ X.</strong></p>
<p>Chủ tịch nước tiếp các đại biểu quốc tế</p>
<p>- Ngày 6.2.2012: Tham quan Xứ Đoài, thăm chùa Tây Phương</p>
<p>Bà Đào Kim Hoa, Phó Trưởng Ban Đối ngoại Hội Nhà văn VN báo cáo tình hình khách mời, hiện có hơn 80 nhà thơ các nước khu vực Châu Á-Thái Bình Dương đã báo tin chính thức tham gia Liên hoan.</p>
<p>Các bộ phận hậu cần lo ăn ở, xe đưa đón; bộ phận đón và tiếp khách; bộ phận chuẩn bị cho các Sân thơ (bao gồm 4 Sân: Sân thơ ở Quảng Ninh, dự kiến làm tại chân núi Bài Thơ; Sân thơ Đêm dạ hội tại Văn Miếu; 2 Sân thơ chính thức Ngày Thơ VN vào sáng 14 tết, tức 5.2.2012 tại Văn Miếu Quốc Tử Giám)… đã sẵn sàng.</p>
<p>Được biết Sân thơ tại Quảng Ninh sẽ do 3 MC: nhà thơ Đỗ Trung Lai, nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai (hội viên mới của Hội NVVN), nhà văn DiLi đảm nhiệm.</p>
<p>Đêm dạ hội thơ có 3 MC: Đỗ Trung Lai, Nguyễn Phan Quế Mai, DiLi</p>
<p>Sân thơ chính vào Ngày Hội Thơ sẽ do nhà thơ Đỗ Trung Lai, nhà văn DiLi đảm nhiệm</p>
<p>Sân thơ Quốc tế (trong sân Thái Học) sẽ do 2 MC là nhà thơ Hữu Việt và nhà thơ Nguyễn Phan Quế Mai (hội viên mới của Hội NVVN) đảm nhiệm.</p>
<p>Chỉ đạo chung: Nhà thơ Hữu Thỉnh</p>
<p>Phụ trách tổng thể các Sân thơ: Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều</p>
<p>Phụ trách Sân thơ Quốc tế: nhà văn Võ Thị Xuân Hà và Ban Nhà văn Trẻ, có sự tham gia của nhà văn Lê Phan Nghị</p>
<p>Phụ trách Sân thơ các Câu lạc bộ: Nhà thơ Phạm Đức.</p>
<p>Phụ trách lên kịch bản tổng thể: Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều, nhà thơ Nguyễn Việt Chiến.</p>
<p>Nhà LLPB Nguyên An, Phụ trách Trung tâm bồi dưỡng Viết văn Nguyễn Du, Chủ tịch công đoàn cơ quan Hội, phụ trách phần đưa đoàn đại biểu tham quan tại Bát Tràng (Gia Lâm, Hà Nội) vào sáng 13 tết, trong lịch trình đi từ Quảng Ninh về Hà Nội.</p>
<p>Ngoài Quảng Ninh đăng cai tổ chức Liên hoan Thơ Châu Á lần thứ Nhất, có 11 tỉnh thành sẽ tham gia Ngày Hội Thơ VN lần thứ 10 tại Văn Miếu: Hà Nội, Hải Phòng, Thái Nguyên, Cao Bằng, Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hòa Bình, Ninh Bình, Hà Nam, Thanh Hóa, Hà Tĩnh.</p>
<p>Các tỉnh thành tham gia đều mang về Ngày Hội Thơ những đặc trưng văn hóa của địa phương, các tiết mục biểu diễn, và tham gia đọc thơ tại Ngày Hội Thơ, cùng giao lưu với các nhà thơ đến từ các nước bạn.</p>
<p><strong> </strong></p>
<p>Nguồn:<span style="color: #0000ff;"> Tonvinhvanhoadoc.vn</span></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/ch%c6%b0%c6%a1ng-trinh-ho%e1%ba%a1t-d%e1%bb%99ng-lien-hoan-th%c6%a1-chau-a-l%e1%ba%a7n-th%e1%bb%a9-nh%e1%ba%a5t-va-ngay-th%c6%a1-vn-l%e1%ba%a7n-th%e1%bb%a9-x/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>GIÁNG XOAN</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/giang-xoan/</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/giang-xoan/#comments</comments>
		<pubDate>Mon, 30 Jan 2012 05:01:36 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Thơ]]></category>
		<category><![CDATA[Thơ Việt]]></category>
		<category><![CDATA[Vân Đình Hùng]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=17098</guid>
		<description><![CDATA[  VÂN ĐÌNH HÙNG  Giáng Xoan  Tặng Giáng Son và ban nhạc Năm Dòng Kẻ   Bặt tăm trốn vào năm dòng kẻ Giai điệu ơi! Sao lặng giữa thu Nốt giáng xoan ngủ lá khô Đắp mảnh heo may huyễn hoặc Hoà thanh vỡ tan vào đất Em tan trên đường kẻ năm dòng [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p> <a rel="attachment wp-att-17099" href="http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/giang-xoan/giangson-2/"><img class="alignnone size-full wp-image-17099" title="GiangSon" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2012/01/GiangSon.jpg" alt="" width="400" height="310" /></a></p>
<p><strong>VÂN ĐÌNH HÙNG</strong><strong> </strong></p>
<h2><strong>Giáng Xoan</strong><em> </em></h2>
<p style="padding-left: 30px;">Tặng Giáng Son và ban nhạc Năm Dòng Kẻ</p>
<p> </p>
<p><strong><em>Bặt tăm trốn vào năm dòng kẻ</em></strong></p>
<p><strong><em>Giai điệu ơi! Sao lặng giữa thu</em></strong></p>
<p><strong><em>Nốt giáng xoan ngủ lá khô</em></strong></p>
<p><strong><em>Đắp mảnh heo may huyễn hoặc</em></strong></p>
<p><strong><em>Hoà thanh vỡ tan vào đất</em></strong></p>
<p><strong><em>Em tan trên đường kẻ năm dòng</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em>Âm giai lúa non vút đòng đòng</em></strong></p>
<p><strong><em>Hương cốm Đồng Xa vọng lại</em></strong></p>
<p><strong><em>Giao hưởng đêm dế rích xanh huyền thoại</em></strong></p>
<p><strong><em>chẫu chàng giao duyên</em></strong></p>
<p><strong><em>Giáng em nốt vẫn hiện nguyên</em></strong></p>
<p><strong><em>Hoà âm gội mưa quyến rũ</em></strong></p>
<p><strong><em>Nửa đầy em xoã trắng si già&#8230;</em></strong></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><strong><em>Cuối thu gió hát đồng xa</em></strong></p>
<p><strong><em>Búp ban mai dám tan hoà thanh không?!!<br />
</em></strong></p>
<p><em>Cuối thu Canh Thìn</em></p>
<p> <img src="http://img.news.zing.vn/img/178/t178638.jpg" alt="" width="430" height="298" /></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/giang-xoan/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>BÀN VỀ TRÍ THỨC</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/ban-v%e1%bb%81-tri-th%e1%bb%a9c/</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/ban-v%e1%bb%81-tri-th%e1%bb%a9c/#comments</comments>
		<pubDate>Sun, 29 Jan 2012 19:36:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Báo chí]]></category>
		<category><![CDATA[Sự kiện - Đối thoại]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[VÕ THANH HƯNG]]></category>
		<category><![CDATA[ĐẠI NGÀN]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=17082</guid>
		<description><![CDATA[NTT – Tôi vừa nhận được loạt bài về Trí thức và Chính trị của Võ Thanh Hưng và Đại Ngàn gửi từ Email lsvohungthanh@yahoo.com. Nhân thấy trên các diễn đàn đang bàn rôm rả về vấn đề này nên đưa lên để bạn đọc cùng tham chiếu. Trước khi đọc các các bài này, [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong><a rel="attachment wp-att-17083" href="http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/ban-v%e1%bb%81-tri-th%e1%bb%a9c/but4-8/"><img class="alignleft size-thumbnail wp-image-17083" title="but4" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2012/01/but43-150x150.jpg" alt="" width="150" height="150" /></a>NTT – Tôi vừa nhận được loạt bài về Trí thức và Chính trị của Võ Thanh Hưng và Đại Ngàn gửi từ Email <a href="mailto:lsvohungthanh@yahoo.com">lsvohungthanh@yahoo.com</a>. Nhân thấy trên các diễn đàn đang bàn rôm rả về vấn đề này nên đưa lên để bạn đọc cùng tham chiếu. Trước khi đọc các các bài này, xin đính chính câu nói của Lenin được tiến sĩ Nguyễn Đình Đăng dịch “Trí thức là cứt”. Theo dịch giả tiếng Nga nổi tiếng Đoàn Tử Huyến thì trong văn cảnh ấy, dịch như thế là sai, vì Lenin chỉ trích “trí thức tư sản” đi ngược lại [cuộc cách mạng] nhân dân…</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong> </strong></p>
<p><strong>VÕ THANH HƯNG</strong> </p>
<h2><span style="color: #993300;">TRÍ THỨC VÀ CHÍNH TRỊ</span></h2>
<p>Ông Nguyễn Đình Đăng viết bài “Trí thức” này quá hay. Thực tế, súc tích và sâu sắc. Bây giờ hình như ông đang ở Tokyo, nhưng đặc biệt nhất là ông đã học đại học ở Liên xô trước đây, cho tới ngày LX sụp đổ, nhất là ông quả thật rất nắm vững các thực tế tại VN kể từ xưa. Các thông tin khách quan rất quý do ông cung cấp cho mọi người rất thú vị chính là các thông tin về Lênin cũng như về xã hội LX về nhiều mặt cho tới lúc nó phải tự tan rã và sụp đổ. Các ví dụ của ông về trí thức trong lịch sử rất phong phú và chính xác, trí thức hình như luôn luôn đối lập với giới chính trị, đặc biệt là giới chính trị độc tài. Trong bài ông không nói về Mao Trạch Đông, về Pôn Pốt, nhưng những gì ông nói đều đã quá đủ để nhận diện tầng lớp trí thức chân chính trong các xã hội cũng như ý nghĩa thông thường của các lực lượng chính trị phi trí thức, phản trí thức trong lịch sử nói chung của nhân loại là như thế nào rồi.</p>
<p>Ở đây, ngoài những gì tác giả bài viết minh họa và lý giải, chúng ta có thể nhấn mạnh thêm vài khía cạnh của ý nghĩa trí thức thật sự hay thực chất như sau.</p>
<p>Trí thức là người hiểu biết, có đầu óc. Chính tiền đề tích cực như thế cho ra các kết quả hay hệ luận tích cực mà ai cũng phải thừa nhận và cũng hiểu được. Nói khác đi, trí thức theo nghĩa rộng là giới chuyên môn, còn trí thức theo nghĩa hẹp là mọi người có nhận thức và tất nhiên có trí tuệ. Nói như thế, có nghĩa trí thức luôn luôn là thành phần tinh hoa của xã hội. Tinh hoa có nghĩa là số ít và chọn lọc. Bởi vậy đã số nhiều và không chọn lọc thì không thể gọi là trí thức được, mà đó là những người bình dân, những “quần chúng” quảng đại, rộng lớn, hay nói chung là tất cả mọi con người phổ cập nhất. Nói khác đi, muốn có trí thức thì phải có học, có khả năng tri thức, có kiến thức, có đầu óc thông minh phát triển, từ đó cũng có các kỹ năng ứng dụng tương ứng khác nhau. Trí thức cao hơn người kém trí thức một cái đầu là như thế. Nhưng đó là trí thức thực sự. Còn như giả trí thức, ngụy trí thức, làm dáng trí thức, tất nhiên là hoàn toàn hay một phần không hội đủ những tiêu chuẩn, tiêu chí cao nhất của mọi người, mọi nhà trí thức chân chính và đúng nghĩa nhất. Từ đó cũng thấy rằng chính trí thức mới luôn luôn là lực lượng đi đầu trong mọi xã hội hay trong mọi giai đoạn lịch sử của loài người. Đây chính là ý nghĩa tương đối hay ý nghĩa cập nhật khách quan tự nhiên của mọi thực tế hay thực tại trí thức. Có nghĩa mỗi giai đoạn phát triển kỹ thuật của nhân loại, dù kỹ thuật nhỏ nhất đến kỹ thuật lớn nhất, đều tất yếu thông qua giới trí thức, tức những người nghiên cứu, phát kiến khoa học kỹ thuật, những nhà khoa học và kỹ thuật. Từ xã hội hái lượm chuyển sang xã hội săn bắn, thì cái cung, cái tên chẳng hạn, đó chính là sự sáng tạo hay sự phát kiến lớn nhất của những người “trí thức” của thời đại đó. Nói khác đi, ngay việc phát hiện ra lửa, rồi ra mọi kỹ thuật khác, cho đến mọi nghiên cứu khoa học mọi ngành về sau để cho loài người phát triển, nếu không qua những bước “trí thức”, không qua những hàm lượng hiểu biết và phát kiến nào đó, thì thử hỏi có hiện thực được không. Đó chính là ý nghĩa hay vai trò, nhiệm vụ của trí thức một cách vô hình chung nhất. Cho nên, đi từ ngọn lửa đến hạt nhân và thời đại công nghiệp điện toán, thông tin, nếu không phải vai trò của trí thức thì thật sự của ai. Câu trả lời ý nghĩa và giá trị của trí thức quá rõ ràng, chẳng có gì để phải xác minh, bổ sung hay cải chính cả. Như thế cũng có nghĩa khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, triết học, và văn học nghệ thuật nói chung, từ Khổng tử, Thích Ca, cho đến Rousseau, Montesquieu cùng những nhà tư tưởng chính trí tự do khác đều đích thật là giới trí thức hay những nhà trí thức lớn của nhân loại. Chỉ tiếc, Các Mác, Lênin, như trong bài viết minh họa, rõ ràng trong thực tế là những người phản trí thức, kể cả những người đi theo họ về sau nổi tiếng như Stalin, Mao Trạch Đông, Pôn Pốt … thực chất cũng đều đại loại như vậy. Mác tự cho rằng tư tưởng của ông ta là tư tưởng vô địch, ai nghịch lại ông ta đều là tư sản hay phản động cả. Lênin đã từng gọi trí thức là cứt, còn Mao Trạch Đông cũng xem trí thức thua cả cục phân, quả họ là những người phi trí thức hay phản trí thức đúng nghĩa cả. Đấy ý nghĩa của sự độc tài nó là như thế. Bởi phi trí thức mới độc tài, còn đúng trí thức thì làm sao độc tài được. Thế cho nên trong giới chính trị đúng nghĩa quả Alexandre Đại đế mới đúng là ý nghĩa trí thức. Câu nói thật lòng của ông “Nếu ta không phải là Alexander thì ta đã là Diogenes” quả thật mới đúng là khẩu khí của vị Đại đế có đầu óc trí thức. Khổng tử, Mạnh tử cũng đều là những nhà trí thức chính trị hay những nhà chính trị trí thức chính là như thế. Từ đó cũng thấy rằng chính trị đi đôi với trí thức thì vẫn ít hay luôn ít, còn chính trị không đi đôi với trí thức hay phản trí thức thì thật là nhiều, luôn luôn quá đỗi nhiều như một thực tế khách quan tự nhiên đáng thương của xã hội chính là như thế. Xã hội phát xít của Hitler, Moussolini, hay xã hội cộng sản của Stalin v.v… đều thể hiện hết sức rõ ràng về tất cả điều này. Nên nói cho cùng, Mác đúng ra cũng chỉ là một nhà trí thức nửa vời, cả Lênin cũng vậy. Bởi nếu không nửa vời thì Mác đã không nghi ngờ, ác cảm với trí thức, và cả Lênin cũng không xem nhẹ hay khi thường trí thức như thế. Chính từ tiền đề có sẵn như thế, nên mọi hệ luận hay hậu quả về sau của chính học thuyết cũng không thể khác, đó là chuỗi lô-gíc tất yếu trong lịch sử thực tế phải là như vậy. Nên nói cho cùng lại, xã hội con người hoặc chỉ là trí thức đúng nghĩa, hoặc không là trí thức đúng nghĩa thế thôi. Trí thức đúng nghĩa thì tôn trọng trí thức, phát huy trí thức, vận dụng trí thức. Còn không đúng nghĩa thì hoặc chỉ lợi dụng trí thức, hoặc chỉ coi thường hay chỉ ác cảm và phủ nhận trí thức. Chung quy nó chỉ là vậy. Độc tài và trí thức đúng nghĩa thì thật sự rất khó hòa hợp nhau. Bởi chỉ có tự do dân chủ đúng nghĩa và trí thức đúng nghĩa mới thực chất hoàn toàn hòa hợp nhau thật sự. Hay chỉ có chính trị thật sự lý tưởng và trí thức đúng nghĩa mới có thể hòa hợp và phát huy nhau thật sự.</p>
<p>(27/01/12)</p>
<h2><span style="color: #993300;">CƠ SỞ PHÂN TÍCH VỀ KINH TẾ XÃ HỘI</span></h2>
<p>Ông Phan Văn Song đã viết một bài phân tích kinh tế và xã hội khá sâu sắc, bao quát và đầy đủ trong bối cảnh khủng hoảng tài chánh toàn cầu nói chung và tại châu Âu hay cụ thể tại Pháp và một số nước khác hiện tại. Ở đây tôi chỉ xin bàn thêm vắn tắt về cơ sở phân tích bổ sung hay đào sâu thêm về kinh tế xã hội. Tất nhiên cho tới nay trong thời kỳ cận đại, nhiều người vẫn còn lấn cấn về kinh tế xã hội chủ nghĩa và kinh tế tư bản chủ nghĩa. Phía khuynh tả thì vin vào cuộc khủng hoảng tài chánh toàn cầu hiện nay để đả kích nền kinh tế tư bản chủ nghĩa. Phía những người khuynh hữu vẫn tiếp tục bênh vực chủ nghĩa tư bản nhưng cũng có ý hướng xét lại một phần nào đó. Thật ra nói cho cùng, trên thế giới ngày nay sự đối chói giữa khái niệm kinh tế mác xít và kinh tế phi mác xít cũng còn nhiều chỗ chưa được làm sáng tỏ. Có người vẫn nghĩ rằng kinh tế mác xít hay kinh tế tập thể kế hoạch hóa là biện pháp hiệu quả, ít ra cũng ở bình diện phân phối. Những người khác thì nghĩ kinh tế thị trường, kinh tế tự do, hay kinh tế tư bản chủ nghĩa là quy luật khách quan, tự nhiên và hiệu quả nhất của xã hội. Thật ra, không phải người ta nghĩ như thế nào, nhưng cái chính là ý nghĩa, giá trị khoa học cho cơ sở phân tích kinh tế xã hội về mặt thực tế như thế nào thôi. Thực chất, kinh tế thị trường, kinh tế tự do, hay kinh tế tư bản chủ nghĩa chỉ là khía cạnh phát triển tất yếu, khách quan, tự nhiên của xã hội. Trong khi đó quan điểm kinh tế xã hội của Mác thực chất chỉ là lấy cái chủ quan làm cái khách quan, lấy cái tưởng tượng làm cái thực chất. Cho nên ông ta mệnh danh quan điểm hay lý thuyết của mình là khoa học, song thực chất lại xa khoa học hay nghịch khoa học. Bởi Mác không xét đến yếu tố tâm lý tự nhiên của cá nhân con người và của xã hội. Ông mê lầm ở trong quan niệm quy luật biện chứng trừu tượng, siêu hình của Hegel mà thành lộng giả thành chân, bóp mép và cưỡng ép chân lý khách quan cũng như sự thật. Trong khi đó, mỗi cá nhân con người lại luôn chính là đơn vị nền tảng của toàn xã hội. Đó là một cấu trúc hoàn toàn thực tế. Cho nên tính năng động của mỗi cá nhân, điều kiện và hoàn cảnh tồn tại của mỗi cá nhân, tính chất hay khung cảnh của xã hội vẫn là cái gì khách quan mà không một ai hoàn toàn quyết định hay chủ động được. Giải pháp kinh tế xã hội như vậy nói rút lại thực chất chỉ là ý nghĩa khoa học kỹ thuật áp dụng vào cho đời sống thực tiển về mọi mặt mà không có cái gì gọi là “ý thức hệ” một cách mơ hồ, vu vơ, phịa đặt ra cả. Chính hệ thống xã hội trong thực tế tự quyết định lấy chính nó mà không là gì hết. Nói khác đi, tính chất đạo lý, tính chất tri thức, tính chất trí thức, tính chất kỹ thuật hay kỹ năng tổ chức thực tế của xã hội tạo ra sự hữu lý, tính công bằng tương đối, tính hiệu quả khách quan, mà không phải bất kỳ các giả định hay bất kỳ các sự thêu dệt giả tạo, ngoại lai nào. Xã hội tự thích nghi, cá nhân tự thích ứng, lịch sử tự phát triển, nhân bản tự phát huy, đó chính là các yếu tố kết hợp đa dạng, vừa tự phát, vừa rút tỉa kinh nghiệm và chấn chỉnh trong thực tế, chính là sự lớn lên, trưởng thành dần dần của con người và xã hội qua phát triển của lịch sử. Xã hội cũng như cá nhân, không phải lúc nào hay luôn luôn đều lành mạnh. Cho nên những giai đoạn khủng hoảng có khi như là điều tất yếu. Vấn đề là có vượt qua được hay không cũng như phương pháp giải quyết các vấn đề như thế nào thôi. Trong một thể chế dân chủ tự do, trong một xã hội trật tự khách quan, tất nhiên lý trí và khuynh hướng phát triển luôn luôn chiến thắng. Ngược lại trong những xã hội trì trệ, độc tài, chủ quan, không bao giờ có khuynh hướng phát triển hay triển vọng phát triển tự nhiên, nhưng chỉ có sự phát triển o ép hay giả tạo. Sự phát triển tự nhiên, khách quan là sự phát triển hiệu quả. Sự phát triển không tự nhiên, không khách quan, thực chất chỉ là sự phát triển ảo hay sự dậm chân tại chỗ về mọi mặt được lắp vào đó những chỉ số phát triển âm hay phản phát triển về nhiều mặt khác. Cho nên ý nghĩa kinh tế xã hội là ý nghĩa khách quan, khoa học, không thể chỉ là ý nghĩa cảm tính, hẹp hòi, hạn chế hay thiển cận. Nói cách khác, chính tư duy và tính năng động khoa học của con người làm cho xã hội, kinh tế hay đời sống phát triển mà không phải ý chí, thị hiếu, sở thích, sự ngụy tạo hay ngụy tín nào đó. Quy luật khách quan là quy luật chung nhất của mọi sự trong thực tại. Mọi cái chủ quan đều chỉ là ảo tưởng, phản hay phi thực tế. Chính trị nói cho cùng không thể phản bội lại kinh tế. Kinh tế cũng không thể phản bội lại xã hội. Xã hội cũng không thể phản bội lại con người. Con người cũng không thể phản bội lại mọi quy luật khách quan, chắc chắn nhất. Cho nên kinh tế thị trường tự do có ý chí và biện pháp điều chỉnh khôn ngoan hợp lý, cụ thể, thiết thực, hiệu quả vẫn là những gì luôn luôn cần bàn tới, thay vì những kiểu tư tưởng cấp tiến đầy cảm tính, nông cạn, nông nổi, vô ý thức, vô trách nhiệm, ba rọi, nửa chừng xuân, kiểu chỉ ăn xổi ở thì, vuốt mặt qua mưa, đánh trống bỏ dùi trong lịch sử xã hội phát triển khách quan của nhân loại mà bất kỳ ai cũng đã rõ.<br />
(26/01/12)</p>
<h2><span style="color: #993300;">CHÍNH TRỊ, KHOA HỌC, VÀ ĐẠO DỨC</span></h2>
<p>Bài viết “Suy thoái đạo đức vì ‘sai từ gốc’” của ông Vũ Duy Phú tôi xin không nhận xét và cũng miễn phê bình. Dầu sao, tuy đây là bài được biết có hơi rút gọn bớt, song tôi nghĩ vẫn là trung thực, đầy đủ nội dung, và ít ra cũng có tính cách phản ảnh hay phát biểu hai chiều. Mọi sự phê phán do đó có thể có nhiều, tôi chỉ muốn nêu một vài ý kiến nhỏ của mình như sau.</p>
<p>Chính trị là một động tác xã hội. Như vậy cũng có nghĩa chính trị phải được xây dựng trên cơ sở khoa học và đạo đức thì mới có giá trị và có nền tảng vững chắc, lâu dài, cũng như mới có các kết quả mỹ mãn được. Gom tất cả những điều này lại, chính trị rõ ràng cần phải có tri thức. Có nghĩa sự hiểu biết, tính khách quan, trong sáng, tính vô tư và thận trọng vẫn luôn là ý nghĩa hàng đầu nhất của mọi biện pháp cũng như tư duy về chính trị. Có nghĩa mọi sự chủ quan, cảm tính, mọi sự thiếu thận trọng, thiên lệch, thậm chí mọi mưu toan hay tính toán lợi hại cá nhân mà đưa vào chính trị cho dầu từ lý thuyết đến thực hành, đều làm hại chính trị chân chính, đều lũng đoạn chính trị, và phản lại chính trị cao cả đúng nghĩa. Như thế, chính trị cần thiết và đúng nghĩa, cho dầu từ lý thuyết đến thực tế đều không thể chủ quan, tức độc đoán, tức phản lại tự do dân chủ. Bởi làm chính trị chân chính là làm cho xã hội, không mưu cầu danh phận hay sự nghiệp cá nhân cho dầu bất kỳ dưới dạng nào đó, thì làm sao mà chuyên chính hay độc tài, độc đoán được. Ý nghĩa căn cơ đơn giản chỉ như vậy, nhưng đối với Mác và Lênin thì nó không phải như vậy. Mác thật sự là một nhà hoạt động chính trị theo kiểu thực tiển, theo cảm tình và cảm tính. Mác đúng ra là một đảng viên cộng sản ngay từ đầu, là nhà báo, là người thực tiển, nên cho Mác là nhà tư tưởng khoa học đúng nghĩa thì thật sự hoàn toàn không đầy đủ. Mác chỉ tự mình nghiên cứu về kinh tế học, không được đào tạo chính quy ngày nào. Mác cũng chẳng phải là nhà xã hội học, nhà tâm lý học, nhà lịch sử học, nhà luật pháp học, nhà chính trị học theo nghĩa chuyên sâu. Thậm chí về mặt triết học, Mác chưa phải đã thật sự có tinh thần như một triết gia thực thụ, như một nhà triết học đúng nghĩa giống như Kant chẳng hạn. Từ tất cả những mớ nhận thức thực tế chủ quan về xã hội, con người, lịch sử nói chung theo cảm tình và cảm tính nhất định, Mác nhồi vào trong niềm tin đối với “phép biện chứng” tức biện chứng luận của Hegel để làm thành toàn bộ hệ thống lý thuyết của mình. Bởi thế đã có hai điều tệ hại trong học thuyết của Mác, điều thứ nhất là chủ trương chuyên chính, điều thứ hai ai không như ta thì đều là bọn tư sản, đều là tư tưởng tư sản cả. Chính Mác quên tâm lý nền tảng của con người, quên con người có bản năng thấp kém tự nhiên, quên ý nghĩa cao nhất trong con người là sự hiểu biết, là nhận thức khoa học, quên giá trị ưu việt của con người là giá trị đạo đức mà không chỉ là giá trị kinh tế. Bởi thế Mác chủ trương giai cấp vô sản như là một khuynh hướng cảm tính thực sự, chủ trương chính trị cộng sản theo kiểu hệ thống máy móc tầm thường thật sự. Đó là tất cả mọi hệ lụy về sau mà mọi người đều thấy. Lênin chỉ là người thừa kế tư tưởng của Mác. Chính ông ta đưa hệ thống lý thuyết của Mác vào thực tiển để trở thành hệ thống thực hành, áp dụng thế thôi. Do vậy ý nghĩa chủ đạo của Lênin là kinh tế tập thể. Có nghĩa muốn vô sản hóa toàn xã hội khách quan trở nên một xã hội chủ quan theo kiểu kinh tế tập thể vô sản thuần túy công nhân. Có nghĩa nông nhân cũng sẽ biến thành giai cấp công nhân, xã hội thuần túy chỉ còn là công nhân, trừ guồng máy lãnh đạo. Đó là ý nghĩa tại sao trong thực tế đã tự nhiên đi đến cơ chế xã hội quan liêu bao cấp một cách máy móc và hết sức toàn diện để cuối cùng sau hơn bảy mươi năm vật lộn vẫn phải thất bại và sụp đổ.</p>
<p>Cho nên tóm lại chính trị mà không khoa học khách quan cũng chỉ phi chính trị hay phản chính trị. Chính trị mà đi ngược lại đạo đức khách quan và đạo đức truyền thống cũng là lạm chính trị và phi đạo đức. Đó chính là cái được gọi là đạo đức cách mạng. Nó phần lớn chỉ là danh từ. Nhiều người có thể nhân danh nó để khống chế người khác, khống chế xã hội theo ý mình. Mọi sự độc tài độc đoán, chủ quan, lệch lạc, thiển cận, phi lý phần lớn có thể đều phát sinh từ đó. Cũng từ đó trở thành thứ bệnh tôn sùng lãnh tụ, ca ngợi lãnh đạo vô điều kiện, coi nó như một thứ đạo đức cách mạng. Bởi vì nếu không thể, có thể bị quy vào phản động hay đạo đức tư sản. Cho nên ngay trong quan điểm tư tưởng của Mác, ý niệm tư sản và vô sản đã không khoa học, không rạch ròi. Mác không phân biệt được ý nghĩa của tài sản chỉ là phương tiện, là công cụ của xã hội và cá nhân con người. Mác lại thuần túy duy vật, coi tài sản, của cải như mục đích, lý tưởng, công cụ duy nhất của động lực sinh hoạt xã hội. Sự bé cái lầm của Mác về rất nhiều phương diện, từ triết học đến kinh tế học, chính trị học, lịch sử học, đạo đức học, xã hội học, nhân văn học v.v… đó là toàn bộ những gì đã đến từ Mác và cũng đã và sẽ tiếp tục lần lần ra đi từ Mác. </p>
<p>(27/01/12)</p>
<h2><span style="color: #993300;">VĂN DĨ TẢI ĐẠO NHẰM PHỤC VỤ CHO MỤC TIÊU XÃ HỘI HÓA CHÍNH TRỊ</span> (<a href="http://36ohk6dgmcd1n-c.c.yom.mail.yahoo.net/om/api/1.0/openmail.app.invoke/36ohk6dgmcd1n/9/1.0.35/vn/vi-VN/view.html#_ftn1#_ftn1">1</a>)</h2>
<p>Cụ Nguyễn Đình Chiểu quả là một trí thức đúng nghĩa, một nhà yêu nước yêu dân bất hủ. Câu thơ để lại vạn đời của cụ chính là “Chở bao nhiêu đạo thuyền không đắm / Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà”. Đúng là hai câu thơ đấu tranh thật sự mãnh liệt, nhiệt tình ngút ngàn có khác. Cho nên nếu làm thơ, viết văn chỉ theo thói thưởng, cốt nhằm diễn tả cái tôi nhỏ hẹp, ích kỷ, riêng tư của mình, thơ văn ấy cũng chỉ luôn có nhan nhã, cũng kiểu hạ giới rẻ như bèo, thật sự cũng chẳng để làm gì, chẳng qua chỉ làm thỏa mãn cái tôi và cũng chẳng đáng sá gì. Ngược lại, nếu văn chương chỉ làm công cụ tiến thân cho bản thân, cốt vơ vét các điều lợi của xã hội về mình, văn chương ấy cũng chỉ là thứ văn chương nịnh thần, chỉ để tiếng thối cho đời mà thật sự cũng chỉ hại đời, hại xã hội, không ích lợi gì cho nhân quần, cho xã hội cả. Nhưng ngoài hai thứ văn chương phi văn học đích thực đó ra, còn có một thứ văn chương khác hay là văn học đối lập, mà nói rộng ra có người còn hiểu như văn chương chống đối. Thế thì văn chương theo cụ Đồ Chiểu luôn luôn phải là văn chương thiết thực. Tức làm thơ không phải để than mây khóc gió, ái tình tủn mủn, tình ái lăng nhăng, hay dùng như lợi bút để kiếm chát mọi điều, nhưng văn chương phải thiết thực với đời sống, với xã hội, có nghĩa đó là văn hóa, văn minh trong cuộc đời. Văn hóa văn minh cũng có nghĩa là phục vụ cuộc sống của mọi người, đề cao cuộc sống một cách tích cực, thiết yếu hay cần thiết, và chống lại mọi ý nghĩa, mọi hiện tượng xấu xa, tiêu cực hay thoái hóa nào đó. Ấy thế thì ý nghĩa đúng đắn của đối lập là đối nghịch lại với cái xấu, cái tiêu cực, cái bậy bạ, sai trái, mà không phải nghịch lại với xã hội hay với con người. Thực chất và ngay thẳng mà nói, từ khi chủ thuyết Mác ra đời, hay sau này được gọi chung là chủ thuyết Mác Lê, văn chương thực tế đều coi như bị vặt râu ở mọi nơi mà nó tràn đến cả. Bị vặt râu cho nên thành trơ trụi, chỉ còn biết nịnh bợ, bợ đỡ hay im lặng mà không còn con đường nào khác. Khởi sự tiêu cực đầu nguồn ở đây là do chính bản thân Mác làm ra. Mác cho rằng chỉ ta là chân lý muôn vàn tuyệt đối (bởi vì Mác cho quy luật biện chứng của Hegel là tuyệt đối !). Mác thật sự chỉ là cái “đuôi” của Hegel, nhưng chỉ là cái đuôi giả. Cái đuôi giả tạo, đầy nghịch lý và mâu thuẫn. Bởi vì cái đầu duy tâm của Hegel đã trở thành cái đuôi duy vật trong Mác. Cái nghịch lý phi khoa học như vậy nhưng Mác luôn tự nhận là chân lý thần thánh và tuyệt đối, thế nên mới có Lênin đứng lên đầu tiên thực hiện lý thuyết Mác. Kể từ đó quan điểm chuyên chính sai trái của Mác, quan điểm mệnh danh khoa học tuyệt đối lẩn thẩn của Mác đã biến thành vũ khí độc tài toàn năng phủ trùm lên toàn nhân loại (may cũng chỉ mới một phần). Ngày này thì mọi sự đều đã rõ ràng. Bởi vì lịch sử phát triển và tiến hóa của loài người đã phơi bày ra hết, cung cấp hết mọi cơ sở và dữ liệu khách quan khoa học để mọi người không còn mơ hồ gì nữa. Thực chất ra, những nhà tư tưởng chân chính, những nhà văn nghệ chân chính, đều thấy cả chân lý của thế gian ngay từ khi Mác xuất hiện cho đến khi Liên xô sụp đổ, hoàn toàn không như hay ngược hẵn với những gì Mác nói. Nhưng con người không thể đi trước thực tiển cả trên mười năm, đó là thông lệ. Cho nên mọi sự sáng suốt thấy trước, có khi cả nửa thế kỷ, cũng phải đành thúc thủ hay im lặng ngậm ngùi trong lòng, bởi xu thế thực tế cuộc đời ít khi thuận lợi cho những gì thấy trước hay tiên tri như thế. Nạn đốt sách chôn nho không phải thời cổ đại mới có, nó luôn xuất hiện cả trong thời cận và hiện đại mà ai cũng rõ. Thế mà ông Lữ Phương tự cho mình là người “Mác xít chân chính” quả thật ông có nằm mơ không đó. Điều này có nghĩa ông Lữ đã “dày công nghiên cứu chủ nghĩa Mác” mà thật tình ông chẳng hiểu gì cả, hay ông hiểu sai, hiều không thấu đáo, không đến nơi tất cả. Cũng từ đó mà có thể nói được bà Phạm Thị Hoài đúng thật là người đối lập tích cực theo ý nghĩa tích cực như trên đã nói. Còn khái niệm “đối lập trung thành” người ta bảo ông Chu Hảo đưa ra, thực hư tôi chưa rõ, nhưng thực chất cũng nên hiểu thêm một chút. Nếu đối lập trung thành theo kiểu Lữ Phương, thì quả cũng chỉ là đối lập trong lồng gà, không thể đi ra ngoài quãng trời đất bao la được. Thế nên nếu đối lập theo kiểu bà Phạm Thị Hoài thì còn khả khi. Tức đối lập trong phạm vi dân tộc, đất nước, xã hội, cuộc đời, hay ít thì cũng trên lãnh thổ VN mà không phải chỉ đối lập trong đảng hay trong học thuyết Mác Lênin ! Nói rộng ra, chỉ có khoa học khách quan và thực tiển cuộc đời mới là cái quý giá nhất và cao cả nhất trong cuộc sống của con người, của mọi con người. Không phải học thuyết nào, đảng nào, lãnh tụ nào, chính quyền nào, thể chế nào mới là cao cả hay tuyệt đối cần thiết cả. Bởi nếu vế sau đi theo vế trước thì mới là điều thuận lý. Còn như vế trước phải khung vào vế sau lại hoàn toàn là điều phản động, trái lý, hay nghịch lý. Cho nên nói cho cùng chỉ có bản thân con người (mọi người), bản thân dân tộc, bản thân đất nước, bản thân xã hội mới là cái đích điểm tột cùng nhất. Nó phải chi phối và mục tiêu cho tất cả mọi sự. Còn nếu ngược lại tức là phản con người, phản dân tộc, phản đất nước, phản xã hội, tức đều phản lịch sử hay thực chất là phản động. Vậy thì nếu ý niệm của ông Chu Hảo hay bà Phạm Thị Hoài áp dụng vào nghĩa sau, nó là tốt, còn như áp dụng vào nghĩa trước cũng chưa hẵn đã là tốt. Tức đối lập giữa cái tốt và cái xấu nói chung, đó là điều tốt. Trung thành với cái tốt mới là tốt. Còn ngược lại chỉ đối lập trung thành theo cách của ông Lữ Phương hiểu, thì chắc ông Lữ Phương cũng nên đi tìm để hỏi lại cụ Nguyễn Đình Chiểu thì quả thật mới thực chất tốt hơn. Mục tiêu xã hội hóa chính trị và ý nghĩa của chính trị hóa xã hội nó khác nhau như thế đó. Sự bé cái lầm của Mác lúc còn sinh thời là cứ tưởng mình đặt nền tảng cho sự xã hội hóa chính trị. Mác có ngờ đâu chính mình đã giăng cái bẫy, đã buộc sẵn sợi thòng lòng để cho việc chính trị hóa xã hội sau này. Cái vòng kim cô mà Mác đã đặt trên đầu nhân loại rất may là nó bị mẽ và đã được lấy xuống. Bởi Mác chủ trương chuyên chính để giải phóng mọi sự chuyên chính quả là sự dại khờ và nghịch lý. Mác bất chấp tâm lý con người và quy luật xã hội. Thế mà cũng có người mệnh danh Mác là triết gia, là nhà khoa học, là trí tuệ của nhân loại, là đỉnh cao của lịch sử, là lương tâm của thời đại, chắc là điều này rất trùng ý với ông Lữ Phương quá. Bởi không ai lấy lửa để chữa lửa, không ai lấy nước để cứu được nạn hồng thủy cả. Người ta còn nhớ ở miền Nam cũ trước bảy lăm, có anh chàng tên là Phạm Cồng Thiện cũng nổi tiếng là “nhà thơ”, nhà tư tưởng, nhà “triết gia” để nói những điều toàn là vung vít. Các Mác ở Đức hồi thế kỷ 19 không biết có giống “nhà triết học” Phạm Công Thiện ở VN hồi thế kỷ 20 không biết. Cho nên thời nay là thời đại của mạng toàn cầu, của giao tiếp tự do nơi mọi người từ mọi chân trời góc biển. Mọi cái chỉ đều tiến hành ngay trong chốc lát tại bàn phiếm máy vi tính mà chẳng cần nháp, chẳng cần cấu tứ hay thai nghén gì. Ai cũng phải làm như vậy và ai cũng có thể làm như vậy. Đùa mà thật, thật là đùa cũng là thế. Thời buổi gạo châu củi quế, thời buổi khủng hoảng tài chánh toàn cầu có ngồi mà làm bài thơ cả tuần, có ngồi mà viết bài báo cả tháng, đó là thời Bành tổ cổ đại xa xưa lắm rồi. Bởi thế nếu đánh máy mà không có lỗi quả mới là tay cừ, còn nếu đánh mãy mà còn có lỗi tức cũng chỉ là điều hoàn toàn tự nhiên, thật sự hiển nhiên thế thôi. Nên nói gút lại cái đối lập hay cái trung thành ngày nay thực chất nó cũng chỉ mang tính chất hồn nhiên, lãng mạn, thoải mái, nhẹ nhàng y như những lời bình trên mạng, mà không còn kiểu sợ búa đập đầu thời Pôn Pốt, sợ bị đội mũ lừa đi diễu phố thời Hồng vệ binh, sợ bị nhốt vào trại cải tạo như thời Stalin hay Trường Chinh, Lê Duẩn nữa.</p>
<p>(28/01/12)</p>
<p><a href="http://36ohk6dgmcd1n-c.c.yom.mail.yahoo.net/om/api/1.0/openmail.app.invoke/36ohk6dgmcd1n/9/1.0.35/vn/vi-VN/view.html#_ftnref1#_ftnref1"><em>(1)</em></a><em> Nhân đọc bài bài viết của ông Lữ Phương viết về bài “Niềm lạc quan vô tận” của nhà văn Phạm Thị Hoài.</em></p>
<h2><span style="color: #993300;">CHÍNH TRỊ VÀ VĂN HÓA</span></h2>
<p>Văn hóa là ý nghĩa cao nhất nơi cá nhân con người cũng như nơi xã hội con người. Văn hóa cũng có nghĩa là văn minh, là sự đi lên hay giá trị đi lên của con người và xã hội nói chung. Đi lên có nghĩa hướng về tương lai và không lùi về quá khứ. Đi lên ở đây trong đời sống vật chất, xã hội cũng như hay nhất là trong đời sống ý thức và tinh thần. Văn hóa như vậy cũng có nghĩa là sự chọn lọc, sự tinh hòa và sự phát triển. Sự phát triển của con người là vô hạn và sự phát triển của xã hội là vô hạn, đó là ý nghĩa căn cơ và nền tảng nhất của văn hóa.</p>
<p>Con người từ môi trường tự nhiên mà ra, không bao giờ thoát ra khỏi môi trường tự nhiên nhưng luôn vượt lên môi trường tự nhiên chung quanh mình. Xã hội là một loại môi trường tự nhiên của cá nhân, nhưng lại là môi trường lịch sử của xã hội.</p>
<p>Vấn đề nguồn gốc con người là vấn đề triết học. Nói người từ khỉ mà ra như Engels khoái trá, đó là ý thức nông cạn, non nớt, ngây thơ, áu trĩ về mặt triết học. Bởi con người và con khỉ đều nằm trong chuỗi tiến hóa sinh vật, nhưng vẫn đề không chỉ duy nhất dừng lại ở đó. Những gì Engels viết ra là gom từ khoa sinh học đương thời trộn chung với biện chứng pháp của Hegel để làm thành biện chứng của tự nhiên một cách máy móc, giả tạo, o ép.</p>
<p>Mác thì lý luận xã hội cộng sản nguyên thủy đi đến xã hội cộng sản khoa học bằng đầu tranh giai cấp, thực chất vẫn ngầm ẩn dùng biện chứng pháp của Hegel như là động lực then chốt. Cái ngờ nghệch, ấu trĩ của Mác là sử dụng ý niệm duy tâm của Hegel vào khái niệm duy vật hoàn toàn của Mác. Khái niệm cộng sản nguyên thủy chỉ là khái niệm giả tạo. Chỉ có xã hội con người nguyên thủy, không có khái niệm cộng sản nguyên thủy. Mác chỉ cưỡng ép thêm vào. Khái niệm tài sản chỉ là khái niệm về sau khi xã hội đã phát triển. Khi tài sản chưa ra đời thì không thể gọi đó là cộng sản nguyên thủy. Đó chỉ là sự cưỡng từ đoạt lý một cách phi khoa học, phản nhận thức khách quan. Vả chăng tài sản chỉ là phương tiện, không phải là cứu cánh của con người, sự duy vật của Mác đã trở nên thô lậu, không cơ sở về mặt cá nhân và xã hội. Cái gọi là hạ tầng cơ sở quyết định thượng tầng kiến trúc, thật sự chỉ là sự tưởng tượng không có sự giải thích đầy đủ hay khách quan của Mác. Nói chung học thuyết của Mác không vượt ra cái cốt lõi duy tâm của Hegel nhưng được gói vào trong đó những cái không liên quan gì đến Hegel cả.</p>
<p>Xã hội con người phát triển là do nhận thức, do thành quả của khoa học kỹ thuật. Tức trí tuệ và chất xám là yếu tố cơ bản nhất trong văn minh, văn hóa, trong phát triển xã hội và lịch sử của loài người. Mác lấy phép biện chứng của Hegel để phịa vào trong đó động lực của lịch sử là đấu tranh giai cấp là hoàn toàn không đúng. Đấu tranh giai cấp chẳng qua là khái niệm giành giật nhau về phúc lợi, về vật chất, về tài sản nếu nói thô lậu như thế, thì làm gì có yếu tố để đi lên, để phát triển như Mác quan niệm. Mác chẳng qua chỉ vì mê chiếc giầy biện chứng của Hegel nên đã cắt chân thực chất của nhân loại sao cho đi vừa đôi giầy giả tạo đó. Cương lĩnh Gotha của Mác thực chất chỉ là sự tưởng tượng nông cạn và vớ vẩn. Tư bản luận của Mác chỉ là biện chứng luận hóa kinh tế học một cách vô căn cứ, hay Hegel hóa xã hội và chính trị một cách trá hình. Mác không đủ khả năng phê phán Hegel nên chỉ biết nhận Hegel như ông thầy giả cầy một cách mù quáng. Sự quản lý xã hội và phát triển xã hội phải lấy căn bản là trí thức, khoa học và đạo đức. Đằng này Mác lấy sức mạnh của bản năng làm động lực đấu tranh là điều hoàn toàn nghịch lý, phi cơ sở khoa học và khách quan. Giai cấp vô sản hay giai cấp nông dân là yếu tố cần phải được xã hội quan tâm giúp đỡ để cùng phát triển, đàng này Mác cho là đầu tàu của phát triển, là động lực của lịch sử, quả là mê tín và ngụy biện, bởi vì Mác lấy biện chứng luận của Hegel làm nền tảng siêu hình cho nó dưới cái vỏ đã được duy vật hóa. Có nghĩa tư tưởng của Mác không mang tính khoa học, cụ thể, khách quan, chính xác, mà chỉ là sự huyễn hoặc theo niềm tin của ông thầy Hegel. Mác tưởng đã lật ngược Hegel lại, đó là điều ngớ ngẩn. Người ta không thể lật ngược bình dầu để nó thành bình nước hay lật ngược bình nước để nó thành bình dầu được. Đó là cách lý luận cường điệu và cưỡng từ của Mác. Nếu như thế thì lấy ý niệm cộng sản nguyên thủy gắn vào và đồng hóa với ý niệm cộng sản khoa học cũng chẳng khác gì uốn cong một cây gỗ cho rễ và ngọn của nó được đồng nhất với nhau. Xã hội Việt Nam trước đây gần thế kỷ, mọi khái niệm khoa học và triết học đều chưa đầy đủ nên cả tin vào học thuyết Mác một cách không cần điều kiện, không cần cơ sở, chỉ theo cảm tính muốn thoát nghèo, muốn đi đến thế giới đại đồng một cách lười biếng nhưng muốn được chóng vánh và khỏi phải đầu tư gì nhọc nhằn thế thôi. Tức mọi người liên quan đều sống trong niềm tin ảo.</p>
<p>Ngày nay lịch sử nhân loại qua bao thử thách đã hầu như sáng ra nhiều điều mà trước kia hãy còn mê muội. Nhưng lại có người cho rằng mọi việc đã sáng tỏ rồi, cần gì phải thuyết minh hay chứng tỏ nữa. Nói như vậy là tiêu cực và ảo tưởng. Bởi vì chân lý cũng như ngọn đèn, phải nhân nó ra, phải làm cho nó sáng thêm luôn luôn. Nếu bảo có đèn rồi thì cứ đắp chăn đi ngủ, quả thật là ngây thơ và lãng mạn tếu. Mỗi đất nước, mỗi dân tộc, cả nhân loại luôn luôn phải đấu tranh đi lên hàng ngày từ trong mọi điều gì phi lý nhất, tồi tệ nhất chính là như thế đó. Con người phải luôn đấu tranh với đồng loại mình vì văn minh văn hóa, phải đấu tranh với xã hội vì văn minh văn hóa, phải đấu tranh với thiên nhiên vì văn minh văn hóa, điều đó cũng chẳng khác gì phải tự đấu tranh với bản năng, với thiên nhiên hoang dã trong chính bản thân của mỗi người. Ai trên đời này cũng đều biết quy luật sức đẩy Archimède. Tức càng nhận sâu vật vào chất lõng nó càng trồi lên mạnh mẽ. Nhưng đó là quán tính và phản quán tính của vật chất. Học thuyết Mác lại muốn nhấn nhân loại vào chỗ vô sản, vào chỗ chuyên chính để nó sẽ trồi lên chỗ lý tưởng cho mau. Không ngờ quy luật ý thức con người không phải là quy luật vật chất. Nên khi đã nhấn sâu xuống rồi nó không còn trồi lên được nữa. Đó là lý do tại sao Liên xô và khối XHCN trước đây phải sụp đổ, và những nước còn lại ngày này phải đổi mới, đó là vì muốn thoát ra cho mau chỗ mà do sự nông cạn đã tin Mác mà đi sâu vào trong sự bế tắt bất tận đó. Đó cũng chính là ý nghĩa của chính trị và văn hóa để mọi người cùng nhận định và tranh luận.<br />
(28/01/12)</p>
<p><strong>ĐẠI NGÀN</strong><strong> </strong></p>
<h2><span style="color: #993300;">SỰ NGHIỆP CHÍNH TRỊ</span></h2>
<p>Nói cho cùng sự nghiệp chính trị đích thực chỉ có thể là vì nước vì dân, vì xã hội, vì tha nhân, không bao giờ chỉ vì cá nhân mình, cho dầu ở về bất cứ mặt nào. Cũng có người gọi chính trị chỉ là mánh lới, thủ đoạn, thì thật sự đó cũng chỉ là chính trị cho mục đích cá nhân mà không phải cho mục đích xã hội. Có nghĩa người làm chính trị chỉ cho mục đích xã hội thì không cần gì phải lấn lướt người khác, không cần gì phải độc tài, độc đoán bất kỳ phương diện nào, mà chỉ cần sự hợp tác, nhường nhịn nhau, tôn trọng nhau, thông hiểu nhau vì mục đích chung. Đó chính là cái gương của những bậc đại hiền ngày xưa sẵn sàng nhường ngôi cho người khác nếu quả người đó hiền hơn mình mà không bao giờ soán ngôi hay tranh bá đồ vương như thời Xuân thu chiến quốc. Cho nên người làm chính trị cao khiết đích thực thì không bao giờ được phép tự cao tự đại, chủ quan, tự cho mình đúng và buộc mọi người khác phải nhất thiết tuân thủ theo mình. Nếu như thế cũng chẳng cần ai ca ngợi mình. Bởi mọi sự ca ngợi nếu thực sự phát xuất từ con tim, từ nhận thức tự chủ và trong sáng của người khác mới thật sự có ý nghĩa và giá trị. Ngược lại nếu chỉ là hiệu ứng cảm xúc kiểu quần chúng, mang tính nhất thời hay do dư luận và tuyên truyền xã hội mọi thứ tạo nên, phỏng cũng có thực chất hay ý nghĩa khách quan gì. Bởi vậy, nói gọn lại, mọi thứ bệnh ca ngợi lãnh tụ thực chất chỉ làm phương hại và đi ngược lại sự tinh khiết của lãnh tụ nếu đó là lãnh tụ đúng nghĩa. Còn nếu không phải như thế, mọi sự ca ngợi giả tạo lại làm hại xã hội, hại con người, hại nhân dân, vì nó làm suy thoái, tha hóa xã hội và con người vì tất cả đều rơi vào ảo ảnh. Cho nên ý nghĩa sau cùng vẫn là mọi hạnh phúc và giá trị của con người nói chung, của xã hội nói chung mà không phải chỉ riềng lợi ích cho cá nhân hay tập thể nào. Vì cái chung thật sự mà quên cái riêng thật sự, đó không phải thánh thì cũng phải là người. Còn nếu vì cái riêng, cái cục bộ nào đó mà quên hết cái chung, cái con người chính đáng, phổ quát muôn thuở trong cõi đời này, thì thật sự đó là đi ngược lại mọi điều chân chính mà trở thành sự giả dối hay tha hóa. Ấy sự nghiệp chính trị cao cả và bao trùm nhất nó chỉ như thế, đó là sự nghiệp vô danh, muôn đời, nhưng không phải chỉ là sự nghiệp hữu danh, nhất thời, cũng như chỉ gói gọn trong bất kỳ mục đích danh vọng, lợi ích của bất kỳ cá nhân nào.</p>
<p>(27/01/12)</p>
<p><strong> </strong></p>
<h2><span style="color: #993300;">SỰ NGHIỆP CHÍNH TRỊ</span></h2>
<p>Nói cho cùng sự nghiệp chính trị đích thực chỉ có thể là vì nước vì dân, vì xã hội, vì tha nhân, không bao giờ chỉ vì cá nhân mình, cho dầu ở về bất cứ mặt nào. Cũng có người gọi chính trị chỉ là mánh lới, thủ đoạn, thì thật sự đó cũng chỉ là chính trị cho mục đích cá nhân mà không phải cho mục đích xã hội. Có nghĩa người làm chính trị chỉ cho mục đích xã hội thì không cần gì phải lấn lướt người khác, không cần gì phải độc tài, độc đoán bất kỳ phương diện nào, mà chỉ cần sự hợp tác, nhường nhịn nhau, tôn trọng nhau, thông hiểu nhau vì mục đích chung. Đó chính là cái gương của những bậc đại hiền ngày xưa sẵn sàng nhường ngôi cho người khác nếu quả người đó hiền hơn mình mà không bao giờ soán ngôi hay tranh bá đồ vương như thời Xuân thu chiến quốc. Cho nên người làm chính trị cao khiết đích thực thì không bao giờ được phép tự cao tự đại, chủ quan, tự cho mình đúng và buộc mọi người khác phải nhất thiết tuân thủ theo mình. Nếu như thế cũng chẳng cần ai ca ngợi mình. Bởi mọi sự ca ngợi nếu thực sự phát xuất từ con tim, từ nhận thức tự chủ và trong sáng của người khác mới thật sự có ý nghĩa và giá trị. Ngược lại nếu chỉ là hiệu ứng cảm xúc kiểu quần chúng, mang tính nhất thời hay do dư luận và tuyên truyền xã hội mọi thứ tạo nên, phỏng cũng có thực chất hay ý nghĩa khách quan gì. Bởi vậy, nói gọn lại, mọi thứ bệnh ca ngợi lãnh tụ thực chất chỉ làm phương hại và đi ngược lại sự tinh khiết của lãnh tụ nếu đó là lãnh tụ đúng nghĩa. Còn nếu không phải như thế, mọi sự ca ngợi giả tạo lại làm hại xã hội, hại con người, hại nhân dân, vì nó làm suy thoái, tha hóa xã hội và con người vì tất cả đều rơi vào ảo ảnh. Cho nên ý nghĩa sau cùng vẫn là mọi hạnh phúc và giá trị của con người nói chung, của xã hội nói chung mà không phải chỉ riềng lợi ích cho cá nhân hay tập thể nào. Vì cái chung thật sự mà quên cái riêng thật sự, đó không phải thánh thì cũng phải là người. Còn nếu vì cái riêng, cái cục bộ nào đó mà quên hết cái chung, cái con người chính đáng, phổ quát muôn thuở trong cõi đời này, thì thật sự đó là đi ngược lại mọi điều chân chính mà trở thành sự giả dối hay tha hóa. Ấy sự nghiệp chính trị cao cả và bao trùm nhất nó chỉ như thế, đó là sự nghiệp vô danh, muôn đời, nhưng không phải chỉ là sự nghiệp hữu danh, nhất thời, cũng như chỉ gói gọn trong bất kỳ mục đích danh vọng, lợi ích của bất kỳ cá nhân nào.<br />
(27/01/12)</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/2012/01/30/ban-v%e1%bb%81-tri-th%e1%bb%a9c/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>CHUYỆN TÌNH NGUYỄN DU VÀ HỒ XUÂN HƯƠNG</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/2012/01/28/chuy%e1%bb%87n-tinh-nguy%e1%bb%85n-du-va-h%e1%bb%93-xuan-h%c6%b0%c6%a1ng/</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/2012/01/28/chuy%e1%bb%87n-tinh-nguy%e1%bb%85n-du-va-h%e1%bb%93-xuan-h%c6%b0%c6%a1ng/#comments</comments>
		<pubDate>Sat, 28 Jan 2012 16:01:38 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chuyện Làng Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Chủ bút]]></category>
		<category><![CDATA[Làng văn]]></category>
		<category><![CDATA[NGUYỄN DU]]></category>
		<category><![CDATA[NGUYỄN TRỌNG TẠO]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=17077</guid>
		<description><![CDATA[Đối thoại trong mơ NGUYỄN TRỌNG TẠO Tôi đọc thơ Hồ Xuân Hương, và giật mình khi gặp bài thơ nôm “Cảm cựu kiêm trình cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu” &#8211; đầu đề bằng chữ Hán, có nghĩa là: “Nhớ bạn cũ, viết gửi cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu; và dưới đầu đề [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em></p>
<div id="attachment_17078" class="wp-caption alignleft" style="width: 207px"><a rel="attachment wp-att-17078" href="http://nguyentrongtao.org/2012/01/28/chuy%e1%bb%87n-tinh-nguy%e1%bb%85n-du-va-h%e1%bb%93-xuan-h%c6%b0%c6%a1ng/nguyendu-2/"><img class="size-full wp-image-17078" title="nguyenDu" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2012/01/nguyenDu.jpg" alt="" width="197" height="256" /></a><p class="wp-caption-text">Tượng Nguyễn Du</p></div>
<p><span style="text-decoration: underline;">Đối thoại trong mơ</span></p>
<p></em></p>
<p><strong>NGUYỄN TRỌNG TẠO</strong></p>
<p>Tôi đọc thơ Hồ Xuân Hương, và giật mình khi gặp bài thơ nôm “<em>Cảm cựu kiêm trình cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu</em>” &#8211; đầu đề bằng chữ Hán, có nghĩa là: “<em>Nhớ bạn cũ, viết gửi cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu; </em>và dưới đầu đề còn mở ngoặc (Hầu Nghi Xuân Tiên Điền Nhân). Sở dĩ tôi giật mình bởi vì Nguyễn Hầu ở đây không ai khác, mà chính là Nguyễn Du, tác giả <em>Truyện Kiều</em>. Hóa ra Nguyễn Du lại là “bạn cũ” của nữ sĩ họ Hồ. Bài thơ thật tình tứ, và khẳng định rằng “<em>Chữ tình chốc đã ba năm vẹn”</em>. Hẳn là hai nhà thơ lớn này đã từng dan díu với nhau không phải là ngắn, phải đến 3 năm cơ đấy. Bài thơ như sau: <img title="More..." src="http://nhathonguyentrongtao.wordpress.com/wp-includes/js/tinymce/plugins/wordpress/img/trans.gif" alt="" /></p>
<p><em>Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung<br />
</em><em>Mượn ai tới đấy gửi cho cùng<br />
</em><em>Chữ tình chốc đã ba năm vẹn<br />
</em><em>Giấc mộng rồi ra nửa khắc không<br />
</em><em>Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập<br />
</em><em>Phấn son càng tủi phận long đong<br />
</em><em>Biết còn mảy chút sương đeo mái<br />
</em><em>Lầu nguyệt năm canh chiếc bóng chong.</em></p>
<p>Nhiều nhà nghiên cứu rất thú vị ba chữ “<em>Sương đeo mái”</em> có cái nghĩa nghịch ngợm khi nói lái, hợp với cái tính nghịch ngợm của Hồ Xuân Hương qua thơ Nôm truyền tụng. Nhưng giáo sư Hoàng Xuân Hán lại phiên âm và chứng minh ba chữ ấy là “<em>Sương siu mấy” &#8211; Sương siu </em>có nghĩa là <em>bịn rịn</em>. Về vấn đề văn bản học xin dành cho các nhà nghiên cứu, còn tôi thì chỉ chú ý tới câu chuyện tình của hai thi tài đáng kính. Nhưng họ yêu nhau như thế nào, vào thơi gian nào thì không có sử sách nào ghi lại cả. Chuyện đã vài trăm năm, làm sao mà biết được?</p>
<p>Tôi đánh đường vào Tiên Điền thăm mộ cụ Nguyễn Du. Thắp hương khấn vái một lát, bỗng thấy một làn mây trắng từ ngôi mộ bay lên rồi tan biến rất nhanh. Tôi quay lại, thấy Nguyễn Du đứng cạnh, mỉm cười. Tôi chắp tay lạy tạ thì Nguyễn Du nói:</p>
<p>- Miễn lễ! Miễn lễ! Anh tìm ta để hỏi chuyện cô Hồ phải không?</p>
<p>- Dạ, phải! Tôi mừng quá, theo Nguyễn Du về nhà, ngồi vào bàn rượu. Trên bàn chỉ bày một nậm rượu bằng sứ và một cái chén mắt trâu cũng bằng sứ.</p>
<p>- Be và chén này cô Hồ tặng ta đấy &#8211; Nguyễn Du nói &#8211; ta giữ mãi đến giờ, vì trọng cái tình của người “Cổ Nguyệt”.</p>
<p><a href="http://nhathonguyentrongtao.files.wordpress.com/2012/01/hoxuanhuong.jpg"><img class="alignright" title="HoXuanHuong" src="http://nhathonguyentrongtao.files.wordpress.com/2012/01/hoxuanhuong.jpg" alt="" width="250" height="207" /></a></p>
<p>Tôi vừa khâm phục vừa xúc động, liền thưa:</p>
<p>- Cháu đọc thơ Hồ Xuân Hương mới biết được chuyện tình ý của cô Hồ với Người. Sau này có người viết sách phỏng đoán là hồi Người được bổ làm tri phủ Thường Tín rồi trở lại Thăng Long làm việc, chuyên đón tiếp sứ Thanh mới quen biết và lui tới với Hồ Xuân Hương. Chẳng lẽ gần 40 tuổi, Người mới có cuộc tình với nữ sĩ chăng?</p>
<p>Nguyễn Du nhấp rượu, lắng nghe, rồi nói:</p>
<p>- Sách của ông Hoàng Xuân Hãn lại viết khác, ông ấy đoán cuộc tình của ta với cô Hồ <em>“phải vào đời Tây Sơn, khoảng từ năm 1792 &#8211; 1795, lúc đó trai chừng 27 &#8211; 30 tuổi, gái chừng 19 &#8211; 22 tuổi”</em>, bởi ông ấy cho rằng thời gian đó ta ở nhà anh ruột là Nguyễn Nễ, cạnh Giám Hồ (Hồ Gương). Đọc <em>Truyện Kiều</em> của ta, chắc anh cũng biết ta là một người trải tình. Cái nòi tình đeo đẳng. Thân phụ ta 8 vợ. Mẹ ta là vợ thứ 3. Nếu hồi ấy có luật 1 vợ 1 chồng thì làm gì có ta để đời sau lấy làm tự hào! Ta chỉ có 3 vợ thôi, nhưng cũng có đến 12 con trai và 6 con gái. Hồi trẻ tuổi, ta đã “mê” cô Cầm chơi đàn nguyệt ở Long Thành. 20 năm sau ta được cử làm chánh sứ đi Trung Quốc (1813), qua Thăng Long tình cờ nghe đúng tiếng đàn ấy, ta nhận ra cô Cầm thì cô đã già và tiều tụy thật khó coi. Ta cảm thương vô hạn, nên làm bài thơ “<em>Long Thành cầm giả ca”</em> để ghi nhớ mối cảm thương.</p>
<p>- Đời sau, có người đoán cô Cầm ấy chính là Hồ Xuân Hương. Như vậy hóa ra cô Hồ là kĩ nữ?</p>
<p>- Đoán thế là sai rồi. Cô Cầm hơn cô Hồ trên chục tuổi. Thời ở nhà anh Nguyễn Nễ, ta có nỗi buồn riêng nên thường đi chơi cùng bạn bè cũ. Tình cờ ta gặp Xuân Hương và quý tính tình tự nhiên, thẳng thắn cùng tài thơ lịch lãm của cô ấy. Xuân Hương lúc ấy khoảng 20 tuổi, tâm hồn dễ cảm. Do đàm đạo thơ phú mà ta và cô Hồ đã phải lòng nhau. Ta cũng đã hẹn cô Hồ đi thuyền hái sen ở Hồ Tây. Nhưng chuyện tình thì không ai dám ngỏ. Mấy năm đi lại với nhau, ta nhận ra cô Hồ được nhiều người yêu mến tài sắc, và tình cô thì nhiều ngả vấn vương, cho nên ta có ý ngại. Tuy vậy sau khi rời Thăng Long, đôi lúc ta cũng nhớ tới Xuân Hương, mộng thấy đi hái sen cùng cô ấy, và ta đã làm thơ.</p>
<p>Nguyễn Du ngâm 5 bài thơ <em>Mộng đắc thái liên</em> (Mộng thấy hái sen), tôi nhớ bài 4 thật hay: “Cộng tri liên liên hoa &#8211; Thùy giả liên liên cán &#8211; Kỳ trung hữu chân ti &#8211; Khiên liên bất khả đoạn” nghĩa là: <em>Hoa sen ai cũng ưa &#8211; Cuống sen chẳng ai thích &#8211; Trong cuống có mành tơ &#8211; Vấn vương không thể đứt.</em></p>
<p>- Nghe nói tuy yêu nhau thế, nhưng Người lại nặng lòng với nhà Nguyễn nên đã dứt tình với cô Hồ?</p>
<p>- Đúng vậy, khi đi qua Thạch Đình (đình đá), ta đành phải viết một bài thơ nôm khá cay đắng gửi cho cô Hồ. Bài thơ có tên là “Thạch Đình tặng biệt”:</p>
<p><em>Đường nghĩa bấy lâu trót vẽ vời,<br />
Nước non sầu nặng muốn đi về.<br />
Cung hoàng dịu vợi đường khôn lọt,<br />
Đường nguyệt mơ màng giấc hãy mê.<br />
Đã chắc hương đâu cho lửa bén,<br />
Lệ mà hoa lại quyến xuân đi.<br />
Xanh vàng chẳng phụ lòng ân ái,<br />
Tròn trặn gương tình cũng có khi.. </em></p>
<p>Nhận được bài thơ đó, cô Hồ thực sự chua xót, nhưng cũng họa lại một bài gửi ta, đó là bài “Họa Thanh Liên Chí Hiên liên vận”:</p>
<p><em>Khúc hoàng tay nguyệt còn chờ dạy,<br />
Cánh phượng đường mây đã vội chi.<br />
Chua xót lòng xem lời để lại,<br />
Hững hờ duyên bấy bước ra đi.<br />
Thử vàng đá nọ treo từng giá,<br />
Phong gấm hoa kia nở có thì,<br />
Đào thắm mận xanh còn thú lắm,<br />
Xuân ơi đành nỡ</em><em> đứt ra về.</em></p>
<p>- Và Người đã xa cô Hồ từ đó?</p>
<p>- Gần 20 năm sau khi biệt Xuân Hương, ta được thăng Cần Chánh điện học sĩ (tháng 2 &#8211; 1813). Biết tin này, cô Hồ đã làm bài thơ gửi ta. Thì ra lòng cô vẫn còn vương vấn tình xưa. Ta xúc động lắm.</p>
<p>- Sao khi đi sứ, qua Thăng Long, Người không tìm gặp lại cô Hồ? Tôi hỏi.</p>
<p>- Lúc ấy mỗi người mỗi cảnh. Ta bận việc công. Đi sứ về phải trở lại Kinh đô Huế ngay. Thế là biền biệt mãi. Tuy vậy, khi viết <em>Truyện Kiều</em>, ta vẫn nhớ tới cô ấy mà viết nên câu:</p>
<p><em>Tiếc thay chút nghĩa cũ càng<br />
</em><em>Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng.</em></p>
<p>Nói đến đây thì Nguyễn Du biến mất. Tôi bồi hồi nhớ lại lời Xuân Diệu về chuyện này: “Chuyện quả thật như thế thì vui biết bao! Cái thiên tài của tiếng Việt và cái tinh túy của tâm hồn Việt Nam nở rộ cùng một lúc ra hai tài thơ lớn&#8230; Nó làm cho tâm trí ta được ấm áp thêm”.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/2012/01/28/chuy%e1%bb%87n-tinh-nguy%e1%bb%85n-du-va-h%e1%bb%93-xuan-h%c6%b0%c6%a1ng/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>VÕ THỊ PHƯƠNG THÚY XÕA NGÀY TÓC RỐI</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/2012/01/28/vo-th%e1%bb%8b-ph%c6%b0%c6%a1ng-thuy-xoa-ngay-toc-r%e1%bb%91i/</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/2012/01/28/vo-th%e1%bb%8b-ph%c6%b0%c6%a1ng-thuy-xoa-ngay-toc-r%e1%bb%91i/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 27 Jan 2012 19:57:12 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chủ bút]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Trọng Tạo]]></category>
		<category><![CDATA[Tiêu điểm]]></category>
		<category><![CDATA[Võ Thị Phương Thúy]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=17069</guid>
		<description><![CDATA[NTT &#8211; Vài năm nay, bạn đọc làm quen và ấn tượng với cái tên Võ Thị Phương Thúy qua những bài thơ trên mạng và trên báo.  Nhà xuất bản Hội Nhà Văn đang chuẩn bị ấn hành tập thơ đầu tay &#8220;Xõa Ngày Tóc Rối&#8221; của Thúy vào dịp Ngày Thơ Nguyên Tiêu [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #000080;"><a rel="attachment wp-att-17070" href="http://nguyentrongtao.org/2012/01/28/vo-th%e1%bb%8b-ph%c6%b0%c6%a1ng-thuy-xoa-ngay-toc-r%e1%bb%91i/vothiphuongthuy1/"><img class="alignleft size-thumbnail wp-image-17070" title="VoThiPhuongThuy1" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2012/01/VoThiPhuongThuy1-150x150.jpg" alt="" width="150" height="150" /></a>NTT &#8211; Vài năm nay, bạn đọc làm quen và ấn tượng với cái tên Võ Thị Phương Thúy qua những bài thơ trên mạng và trên báo.  Nhà xuất bản Hội Nhà Văn đang chuẩn bị ấn hành tập thơ đầu tay &#8220;<em>Xõa Ngày Tóc Rối</em>&#8221; của Thúy vào dịp Ngày Thơ Nguyên Tiêu năm nay. Khi tập thơ đã vào nhà in, Thúy lại có một chùm thơ mới gửi tới nguyentrongtao.org. Phải nói sức viết của Thúy đang rất sung mãn. Nhân dịp này, NTT xin giới thiệu bài Tựa cho tập thơ và chùm thơ mới của chị.</span></strong></p>
<p style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #000080;">.</span></strong></p>
<h2 style="text-align: justify;"><span style="color: #993300;">.</span></h2>
<h2 style="text-align: justify;"><span style="color: #993300;">TỰA XÕA NGÀY TÓC RỐI</span></h2>
<p>Bài thơ đầu tiên của Thúy tôi đọc là bài “<em>Trăng ca</em>” dài 156 câu. Một giọng thơ lục bát điêu luyện, nhiều câu ngắt nhịp kiểu cách tân. Ngôn ngữ thơ trau chuốt. Hình ảnh thơ mờ ảo. Nội dung thơ mang nhiều ám tượng văn hóa Việt. Tôi không nghĩ đây là thơ của một người mới “tập tành” viết thơ, mà là thơ của một người khá già dặn tay nghề:</p>
<p><em><a rel="attachment wp-att-17071" href="http://nguyentrongtao.org/2012/01/28/vo-th%e1%bb%8b-ph%c6%b0%c6%a1ng-thuy-xoa-ngay-toc-r%e1%bb%91i/vothiphuongthuyxoangaytocroi1/"><img class="alignright size-medium wp-image-17071" title="VoThiPhuongThuyXoaNgayTocRoi1" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2012/01/VoThiPhuongThuyXoaNgayTocRoi1-202x300.jpg" alt="" width="202" height="300" /></a>Dại gì mà kết phu thê<br />
</em><em>Trăng còn Tô Thị hẹn thề trăm năm<br />
</em><em>Em còn trăng lót vạt nằm<br />
</em><em>Tôi còn em ngậm đóa rằm chưa bưa</em><em> </em></p>
<p>Và những câu thơ gợi nhớ về thôn quê nhiều thương nhớ:</p>
<p><em>Sài Gòn ướt phía không mưa<br />
</em><em>Cầm tay nhau rủ rê: Thừa một trăng !<br />
</em><em>Hai tay khoanh lại nhọc nhằn<br />
</em><em>Rổn rang: Mèng đéc ơi! Thằn lằn kêu<br />
</em><em>Phập phồng phập phào phập phều<br />
</em><em>Cái nồi đất đựng đầy niêu trăng tàn</em></p>
<p>Thúy viết khá nhiều thơ lục bát, với một tay nghề nhuần nhuyễn như là sinh ra để làm thơ lục bát vậy. Đó là điều mà ít những người làm thơ trẻ như Thúy làm được. Nhưng lại cũng như những nhà thơ trẻ khác, Thúy làm thơ tự do với ngôn ngữ thơ hiện đại. Thơ của Thúy xoáy sâu vào thân phận tình yêu tuổi trẻ với nhiều cung bậc cảm xúc tinh tế và mạnh mẽ.</p>
<p><em>Những giọt mưa khua trên mái tôn ngỡ tim mình đang vỡ<br />
</em><em>Ngàn mảnh thầm thì hành khất một bờ môi</em> </p>
<p>Và: </p>
<p><em>Muốn lõa lồ một đêm trăng Thị Nở<br />
</em><em>Góc vườn khuya rụng vỡ trái địa đàng<br />
</em><em>Thèm vụng trộm để một lần ăn rở…</em></p>
<p>Thơ của Thúy không phá mở hình thức mà hướng tới khám phá bí mật tâm hồn, bí mật phận người. Đó cũng là một cách làm mới thơ để mang tới cho thơ nhiều điều mới lạ. Đây là xu hướng mà thơ trẻ đang trầm tĩnh kiếm tìm, và Thúy không bị sự hào nhoáng của hình thức và đề tài gây “sốc” phủ dụ. </p>
<p>Làm thơ theo bản năng thì nhiều người làm. Nhưng làm thơ “có nghề” thì chẳng mấy. Theo người xưa thì bản năng của con người ta đều có ít nhiều chất Thi sĩ, và khi làm thơ có nghề thì được gọi là Thi gia (Nhà thơ) và khi nhà thơ đó trở thành nhà tư tưởng thì gọi là Thi nhân. Với một người trẻ như Võ Thị Phương Thúy mà hội đủ cả chất Thi sĩ lẫn chất Thi gia thì đó là một điều đáng mừng.</p>
<p>Tuy nhiên, thơ rất chuộng tính hồn nhiên. “Tự nhiên nhi nhiên”. Hy vọng càng đi xa, người thơ không để mất đi tính hồn nhiên trong trẻo của thơ.</p>
<p><em>Hà Nội, 1.2012<br />
</em><em>NGUYỄN TRỌNG TẠO</em></p>
<p><em> </em></p>
<h2><span style="color: #000080;">CHÙM THƠ MỚI CỦA VÕ THỊ PHƯƠNG THÚY</span></h2>
<p><em><strong><span style="color: #993300;">TRÁCH</span></strong></em></p>
<p><em><strong><span style="color: #993300;"> </span></strong></em></p>
<p><em><strong>Quây trăng lót một chỗ nằm</strong></em></p>
<p><em><strong>Vạt người hoang lạnh âm âm gió mùa</strong></em></p>
<p><em><strong>Con đường từ độ già nua</strong></em></p>
<p><em><strong>Người mang hơi ấm cợt đùa rồi đi</strong></em></p>
<p><em><strong>Bõ bèn một giấc vu quy</strong></em></p>
<p><em><strong>Rợp trời voan trắng nhu mì thả rông</strong></em></p>
<p><em><strong>Cơn mơ đánh cắp nụ hồng</strong></em></p>
<p><em><strong>Ngậm lời trinh nữ xuôi dòng phù vân</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>                          Cỏ, 7/1/2012</strong></em></p>
<p><strong><em> </em></strong></p>
<p><em><strong><span style="color: #993300;">VẮNG</span></strong></em></p>
<p><em><strong>                    </strong>(Cho Sơn)</em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>Em vùi ý nghĩ trong tầng lá khô nghe mùa đông tách vỏ</strong></em></p>
<p><em><strong>Tiếng bước chân gầy cuộc nắng mưa</strong></em></p>
<p><em><strong>Chiều cuối năm vắng người đợi chờ thành hun hút</strong></em></p>
<p><em><strong>Nỗi nhớ buông rèm</strong></em></p>
<p><em><strong>Lẻ loi thừa mứa</strong></em></p>
<p><em><strong>Tiếng cười bỏ quên thềm ngày cũ</strong></em></p>
<p><em><strong>Người nhặt về đi!</strong></em></p>
<p><em><strong>Nhặt về đi mà gặm nhấm đêm hoang</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>Lớp sóng nào cuộn xô dưới đáy buồn</strong></em></p>
<p><em><strong>Em khẽ trở mình sợ mơ hồ thức giấc</strong></em></p>
<p><em><strong>Vệt sao cuối trời không soi tỏ mặt người</strong></em></p>
<p><em><strong>Ánh đèn đường không soi tỏ mặt người</strong></em></p>
<p><em><strong>Bàn tay trơ trọi</strong></em></p>
<p><em><strong>Những ngón tay không làm được trò ma mị trên đường cong cô đơn</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>Người đừng dỗ dành em</strong></em></p>
<p><em><strong>Chiếc bóng cuối cùng bỏ rơi em khi đêm tối</strong></em></p>
<p><em><strong>Con đường bỏ rơi trong một lần em quên ngoái lại</strong></em></p>
<p><em><strong>Và tháng năm mải ú tim trên những bước chân chật chội</strong></em></p>
<p><em><strong>Trò kiếm tìm thú vị và trớ trêu…</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>Chiều cuối năm em ngồi đếm dốc thời gian chảy ngược</strong></em></p>
<p><em><strong>Mùi trầm hương lặng lẽ đi về</strong></em></p>
<p><em><strong>Người cứ kệ em và nỗi buồn thêu dệt</strong></em></p>
<p><em><strong>Biết đâu! …</strong></em></p>
<p><em><strong>Mùa xuân đã thức ở bên trời…</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>                       Cỏ, tất niên 2011</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong><span style="color: #993300;">BUỒN NHƯ CỎ</span></strong></em></p>
<p><em><strong><span style="color: #993300;"> </span></strong></em></p>
<p><em><strong>Giấc đêm qua anh có gọi em không?</strong></em></p>
<p><em><strong>Thoảng trong gió lời nồng nàn rất khẽ</strong></em></p>
<p><em><strong>Em lặng ngắt mơ tay mềm cứu rỗi</strong></em></p>
<p><em><strong>Động tình nào chăn gối lạnh mùa sang</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>Nỗi cô đơn cười hả hê viên mãn</strong></em></p>
<p><em><strong>Những thói quen yêu thương cựa quậy</strong></em></p>
<p><em><strong>Nhói</strong></em></p>
<p><em><strong>Buốt</strong></em></p>
<p><em><strong>Nụ hôn anh rất gần</strong></em></p>
<p><em><strong>Bờ môi anh quá xa</strong></em></p>
<p><em><strong>Mộng ảo trượt ngã sau tấm rèm buông ngược gió</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>Đôi mắt tháng Giêng không biết hát lời cỏ non</strong></em></p>
<p><em><strong>Bàn tay tháng Giêng không miết nổi nếp nhăn có thật</strong></em></p>
<p><em><strong>Nước mắt vị mặn nước mắt nhạt dần</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>Sáng nay vòm trời cong cong như niềm nhớ</strong></em></p>
<p><em><strong>Bầy lá khô xoắn xuýt gót lạnh mềm</strong></em></p>
<p><em><strong>Ly cà phê uống dở</strong></em></p>
<p><em><strong>Bản tình ca bỏ ngỏ</strong></em></p>
<p><em><strong>“Tôi buồn như cỏ…”</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>Xa xăm về bên người</strong></em></p>
<p><em><strong>Xa xăm ghé chốn này</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>Cỏ, 27/1/2012</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong><span style="color: #993300;">TỰ KỶ</span></strong></em></p>
<p><em><strong>                   </strong>(Viết trong đêm đọc thơ Du Nguyên)</em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>Giêng sang ngồi mơ tháng Chạp</strong></em></p>
<p><em><strong>Mùa gió chướng tôi yêu, mùa gió chướng xa người, mùa gió chướng vương vương</strong></em></p>
<p><em><strong>Mùa gió thơm hương đôi môi người ấm nóng</strong></em></p>
<p><em><strong>Tôi thèm gục đầu lên cớm nắng ban trưa và khóc</strong></em></p>
<p><em><strong>Người sẽ dỗ dành tôi bằng nụ hôn mơn trớn thịt da</strong></em></p>
<p><em><strong>Người sẽ thì thầm bên tai tôi Người cô độc và tôi chỉ có một.</strong></em></p>
<p><em><strong>Người chỉ có một tôi</strong></em></p>
<p><em><strong>Thi thoảng người quên điều đó?</strong></em></p>
<p><em><strong>Hay thi thoảng người nói dối?</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>Đôi khi tôi xòe bàn tay và thả vào đó dăm ba giọt buồn thỉu buồn thiu</strong></em></p>
<p><em><strong>Những giọt buồn không trong vắt như giọt nắng tháng năm nhảy múa</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>Đôi khi tôi vấn tóc mình lên và cong môi, bụm miệng trước gương</strong></em></p>
<p><em><strong>Chợt thấy lời người thoảng qua trong đôi mắt</strong></em></p>
<p><em><strong>Tôi thảng thốt</strong></em></p>
<p><em><strong>Có bóng ma ẩn hiện trong giọng nói xưa lắc xưa lơ…</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>Đêm qua tôi chạy dọc mùa đông về căn phòng  gió trống</strong></em></p>
<p><em><strong>Mái ngói hanh hao vàng vọt</strong></em></p>
<p><em><strong>Bầy sẻ nâu bạt gió phương nào</strong></em></p>
<p><em><strong>Kí ức vụn vỡ trên mặt bàn tẩy xóa</strong></em></p>
<p><em><strong>Kí ức lấm lem trên mảng tường cũ kỹ</strong></em></p>
<p><em><strong>Những dòng tên nắn nót huơ chân huơ tay loạn xì ngầu</strong></em></p>
<p><em><strong>Kêu gào và hét toáng</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>Có sức mạnh nào kéo tôi chạy thục mạng ra phố</strong></em></p>
<p><em><strong>Đường này</strong></em></p>
<p><em><strong>Ngõ nọ</strong></em></p>
<p><em><strong>1,2,3,4,5…vẫn còn nguyên 15 cây hoa sữa</strong></em></p>
<p><em><strong>Tôi đã từng lo sợ người ta sẽ chặt hết và phố sẽ chít khăn tang tiếc thương mùi nồng nàn</strong></em></p>
<p><em><strong>Đôi tay chưa kịp ướp hương</strong></em></p>
<p><em><strong>Lời chia xa chưa kịp nói</strong></em></p>
<p><em><strong>Có thể người quên tôi</strong></em></p>
<p><em><strong>Đừng quên đêm ngọt ngào</strong></em></p>
<p><em><strong>Người chờ tôi, đêm nảo đêm nao.</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>Tôi lại đắp chăn kín mít</strong></em></p>
<p><em><strong>Bằng cách đó tôi giấu nỗi buồn và nước mắt và tiếng nấc</strong></em></p>
<p><em><strong>Tôi tin người biết</strong></em></p>
<p><em><strong>Tôi tin người cố tình không biết</strong></em></p>
<p><em><strong>Lần 1, lần 2, lần 3 và vân vân lần</strong></em></p>
<p><em><strong>Tôi thiếp đi.</strong></em></p>
<p><em><strong>Tôi nghe có lời xin lỗi</strong></em></p>
<p><em><strong>Tôi nghe lời đôi môi trên má</strong></em></p>
<p><em><strong>Chập chờn, chập chờn</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>Đôi cánh ước mơ bấy lâu đã rệu rạo rều rào</strong></em></p>
<p><em><strong>Những ý nghĩ bấy lâu đã cùn trơ cùn trẩy</strong></em></p>
<p><em><strong>Tôi chai sạn nỗi đau</strong></em></p>
<p><em><strong>Tôi lạnh lùng xác thịt</strong></em></p>
<p><em><strong>Tôi song hành cùng nỗi cô đơn và thỏa hiệp và cười với nó</strong></em></p>
<p><em><strong>Tôi thường hát giữa đêm bản tình ca câm lặng</strong></em></p>
<p><em><strong>Tôi thường cười một mình (gió không biết tôi điên)</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>Riêng tôi biết tôi điên</strong></em></p>
<p><em><strong>Anh có biết?</strong></em></p>
<p><em><strong>Hình như người điên cũng buồn</strong></em></p>
<p><em><strong> </strong></em></p>
<p><em><strong>                        Cỏ,28/1/2012</strong></em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/2012/01/28/vo-th%e1%bb%8b-ph%c6%b0%c6%a1ng-thuy-xoa-ngay-toc-r%e1%bb%91i/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>NGUYỄN ĐÌNH ĐĂNG: TRÍ THỨC</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/2012/01/27/nguy%e1%bb%85n-dinh-dang-tri-th%e1%bb%a9c/</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/2012/01/27/nguy%e1%bb%85n-dinh-dang-tri-th%e1%bb%a9c/#comments</comments>
		<pubDate>Fri, 27 Jan 2012 03:11:03 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Báo chí]]></category>
		<category><![CDATA[Chuyện Làng Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Làng văn]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[NGUYỄN ĐÌNH ĐĂNG]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=17056</guid>
		<description><![CDATA[NTT &#8211; Sa Hoàng Nikolai Đệ Nhị từng căm ghét trí thức đến nỗi muốn loại bỏ từ “trí thức” khỏi từ vựng của tiếng Nga: “Trí thức là một từ ghê tởm”. Lenin gọi trí thức là cứt. Mao bảo trí thức là cục phân. Ngô Bảo Châu nói trí thức là người lao [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div id="attachment_17057" class="wp-caption alignleft" style="width: 191px"><a rel="attachment wp-att-17057" href="http://nguyentrongtao.org/2012/01/27/nguy%e1%bb%85n-dinh-dang-tri-th%e1%bb%a9c/nguyendinhdang/"><img class="size-full wp-image-17057" title="NguyenDinhDang" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2012/01/NguyenDinhDang.jpg" alt="" width="181" height="153" /></a><p class="wp-caption-text">Nguyễn Đình Đăng</p></div>
<p style="text-align: justify;"><strong>NTT &#8211; Sa Hoàng Nikolai Đệ Nhị từng căm ghét trí thức đến nỗi muốn loại bỏ từ “trí thức” khỏi từ vựng của tiếng Nga: “<em>Trí thức là một từ ghê tởm</em>”. </strong><strong>Lenin gọi trí thức là cứt</strong>.<strong> Mao bảo trí thức là cục phân. Ngô Bảo Châu nói trí thức là người lao động trí óc. Ai đó nói trí thức là dấn thân. Phải chăng trí thức là tất cả những thứ ấy cộng lại? Mời bạn đọc dưới đây bài viết của <a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/2012/01/26/intelligentsia/" target="_blank">NGUYỄN ĐÌNH ĐĂNG</a>. </strong><br />
<span id="more-17056"></span></p>
<p> </p>
<p>Hồi còn là sinh viên năm thứ nhất (1976 – 1977) tại Đại học Tổng hợp Quốc gia Maxcơva <a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftn1">[1]</a>, một lần ngay trong giảng đường vào giờ nghỉ, chúng tôi được yêu cầu khai lý lịch để nộp cho giáo vụ trường. Đến mục thành phần giai cấp của gia đình, tôi viết “<em>trí thức</em>” (<em>интеллигенция</em>), lại còn “trầm trọng” ghi chú “<em>cha: thầy giáo, mẹ: bác sĩ</em>” (<em>отец – учителъ, мать – врач</em>). Petya, cậu bạn Nga của tôi, thấy vậy bảo: “<em>Ê, tiểu tư sản! Xoá đi mày! Ghi như tất cả chúng tao đây này: рабочий (lao động, công nhân)</em>.” Thấy tôi có vẻ băn khoăn, cậu ta giải thích: “<em>Chúng tao gọi thầy giáo và bác sĩ là những người lao động trí óc (работники умственного труда)</em>.”</p>
<p>*</p>
<p>Phải nói thẳng một cách sòng phẳng như thế này. Trong lịch sử nhân loại chưa có một chế độ độc tài nào lại tôn trọng trí thức. Độc tài và trí thức không khác gì lửa và nước. Tần Thủy Hoàng từng ra lệnh đốt Kinh Thi và Kinh Thư, chôn sống hơn 460 Nho sĩ. Sa Hoàng Nikolai Đệ Nhị từng căm ghét trí thức đến nỗi muốn loại bỏ từ “trí thức” khỏi từ vựng của tiếng Nga: “<em>Trí thức là một từ ghê tởm</em>,” ông ta nói. Nhà độc tài kế tiếp ông, lãnh tụ cộng sản Lenin còn tiến một bước xa hơn khi đã không ngần ngại sử dụng một trong những từ thiếu sạch sẽ nhất để gán cho trí thức: <strong>Lenin gọi trí thức là cứt</strong>. Trong thư gửi Maxim Gorky ngày 15/9/1919, Lenin viết: “<em>Các lực lượng trí tuệ của công nông đang trưởng thành vững mạnh trong cuộc đấu tranh lật đổ tư sản và bọn đồng lõa, lũ trí thức – đầy tớ của tư bản, những kẻ tưởng mình là bộ não của quốc gia. Trên thực tế, bọn chúng không phải là bộ não mà là cứt.</em>” <a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftn2">[2]</a>.</p>
<p>Khác với từ <em>intellectuals</em> trong tiếng Anh, thường được dùng chủ yếu để chỉ những người có nghề nghiệp chuyên môn trong các lĩnh vực lao động trí tuệ nhằm phân biệt họ với những người lao động chân tay, khái niệm<em> trí thức (интеллигенция)</em> trong tiếng Nga được dùng cho tầng lớp của những người không đơn thuần chỉ có học và lao động trí óc, mà còn phải có tư duy phê phán, phải gánh vác những lý tưởng cao cả. Các tính năng chính của trí thức Nga trước cách mạng tháng 10 mang đặc thù của những cứu tinh trong xã hội, bao gồm: 1) sự quan tâm tới số phận của đất nước (trách nhiệm dân sự), 2) thái độ và hành động hướng tới phê bình xã hội, tới cuộc đấu tranh với tất cả những gì cản trở sự phát triển quốc gia (vai trò của những người gánh vác lương tâm xã hội), và 3) khả năng đồng cảm với những ai “bị xúc phạm và bị xỉ nhục” (cảm giác đồng cảm về đạo đức).</p>
<p>Vốn có truyền thống tự chịu trách nhiệm về tương lai của đất nước như vậy, nên một số trí thức Nga đã có ảo tưởng ngây thơ rằng họ có thể hợp tác với chính thể độc tài, thuyết phục những người cầm đầu để họ cải tổ theo chiều hướng tự do dân chủ. Họ chưa bao giờ thành công. Sau cách mạng tháng 10 Nga, các văn hào như Maxim Gorky và Vladimir Korolenko đã đích thân tới gặp Lenin với hy vọng thuyết phục ông ngừng khủng bố, nhưng họ đã thất bại.</p>
<p>Những người cầm đầu trong bộ máy quyền lực của chính thể cộng sản đã không bao giờ tha thứ thái độ “phản động” hay “phản cách mạng” của giới trí thức và đã nhanh chóng đàn áp họ. Thi sĩ nổi tiếng Nikolai Gumilev là nạn nhân đầu tiên. Năm 1921 ông đã bị buộc tội âm mưu chống lại chế độ Xô Viết và đã bị xử bắn. Cuộc đàn áp trí thức của chính quyền Xô Viết đã đẩy hàng loạt trí thức Nga di tản ra nước ngoài sau cách mạng tháng 10. Những đại diện xuất sắc của giới trí thức Nga thời đó, kể cả các triết gia và các văn hào lớn như Nikolai Berdyaev<a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftn3"> [3]</a> – chủ bút tờ Vekhi (<em>Вехи</em>: Những cột mốc), cũng bị chính quyền trục xuất ra khỏi đất nước vào cuối năm 1922. Sự đàn áp này còn tiếp tục cho tới khi Liên Xô tan rã vào năm 1991, với nhiều văn nghệ sĩ và trí thức bị tống giam, trục xuất, đày ải, trong đó có những cá nhân kiệt xuất như nhà vật lý Lev Landau (Nobel vật lý năm 1962, bị bắt giam 1 năm trong đợt thanh trừng 1936 – 1938), nhà thơ Iosif Brodsky (Nobel văn chương năm 1987, bị trục xuất năm 1972), nhà văn Alexandr Solzhenitsyn (Nobel văn chương năm 1970, bị bắt giam 11 năm tù 1945 – 1956, bị trục xuất năm 1974), nhà vật lý Andrei Sakharov (Nobel hoà bình năm 1975, bị bắt và bị quản thúc 6 năm 1980 – 1986), v.v.</p>
<p>Dưới chính thể cộng sản, Đảng cộng sản cai trị toàn xã hội, không cho phép bất cứ đảng phái đối lập nào khác tồn tại, chưa nói cạnh tranh quyền lực, và thẳng tay trừng trị mọi tư tưởng khác quan điểm do đảng áp đặt, chứ chưa nói tới hành động, mà những người cộng sản cho rằng có thể đe doạ địa vị thống trị của họ. Chỉ riêng chế độ Stalin – người kế thừa Lenin – đã hành quyết và đầy ải đến chết hơn 20 triệu người <a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftn4">[4]</a>, gấp đôi số nạn nhân đã chết trong các lò thiêu người và trại tập trung của phát-xít Hitler. Chính thể cộng sản quả thật là chính thể độc tài tàn bạo nhất trong thế kỷ thứ 20.</p>
<p>*</p>
<p>Bài học đau xót của trí thức dưới chính thể cộng sản đầu tiên trong lịch sử nhân loại đã được lặp lại tại Việt Nam. Vào năm 1956, khi một số văn nghệ sĩ, luật sư, triết gia, bác sĩ, nhà giáo tại Hà Nội như Hoàng Cầm, Trần Dần, Nguyễn Hữu Đang, Lê Đạt, Phan Khôi, Tử Phác, Phùng Quán, Nguyễn Mạnh Tường, Trương Tửu, Trần Đức Thảo, v.v. lên tiếng đề nghị Đảng cộng sản (lúc đó lấy tên là Đảng Lao Động Việt Nam) tôn trọng tự do sáng tạo, hành xử theo luật pháp v.v., họ đã bị đàn áp thẳng tay trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Cải cách ruộng đất, cải tạo công thương nghiệp tư bản tư doanh và vụ Nhân Văn Giai Phẩm là những đòn trí mạng giáng vào giới trí thức Việt Nam, và kết quả là đã “đào tận gốc trốc tận rễ” tầng lớp này trên miền Bắc. Còn sau năm 1975, Việt Nam là đất nước đã sinh ra cuộc di tản khổng lồ bằng thuyền khủng khiếp nhất trong lịch sử hiện đại <a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftn5">[5]</a> với hơn 1.6 triệu người bỏ quê hương di tản ra ngoại quốc, trong đó có hàng ngàn trí thức miền Nam <a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftn6">[6]</a>.</p>
<p>Trên thực tế, nếu hiểu giới trí thức như khái niệm <em>интеллигенция</em>, thì Việt Nam từ đó không còn giới trí thức nữa. Thay vào đó, cụm từ “<em>trí thức xã hội chủ nghĩa (XHCN)</em>” đã ra đời tại miền Bắc XHCN, và sau đó cụm từ này đã chết yểu. Nó cũng tương tự như việc thay thế chủ nghĩa hiện thực trong văn học nghệ thuật bằng “<em>hiện thực XHCN</em>” tại Liên Xô trước đây mà nhiều nước trong khối cộng sản đã bắt chước. “Hiện thực XHCN” đã hoàn toàn phá sản sau khi Liên Xô sụp đổ. Câu chuyện tiếu lâm dưới đây, mà tôi từng được nghe trong thời sinh viên tại Liên Xô, đã nêu rõ thực chất của thứ “hiện thực” này.</p>
<p>Thành Cát Tư Hãn sau khi chinh phạt thế giới, đã trở thành bá chủ một đế quốc mênh mông trải dài từ bờ biển Đông tới lưu vực sông Danube. Tuy nhiên, trong một lần chinh chiến, ông ta đã bị mất một mắt. Có lần vị hoàng đế nhà Nguyên này ban lệnh tìm hoạ sĩ giỏi để vẽ chân dung cho mình. Hoạ sĩ thứ nhất được tiến cử tới yết kiến Thành Cát Tư Hãn, và đã vẽ hoàng đế nhà Nguyên với đầy đủ cả hai mắt tinh. Sau khi bức tranh được hoàn thành và được đem trình hoàng đế xem, Thành Cát Tư Hãn khinh bỉ nói: “<em>Sao lại có cái thứ lãng mạn chủ nghĩa đồi bại thế này?</em>”, rồi ra lệnh chém đầu hoạ sĩ. Hoạ sĩ thứ hai được vời tới. Rút kinh nghiệm thảm khốc từ hoạ sĩ trước, hoạ sĩ này đã vẽ Thành Cát Tư Hãn giống y như thực, tức là với một mắt tinh và một mắt chột. Thành Cát Tư Hãn liếc nhình bức tranh rồi phán: “<em>Tự nhiên chủ nghĩa tục tằn!</em>” Hoạ sĩ thứ hai cũng bị bay đầu. Hoạ sĩ thứ ba đã vẽ chân dung Thành Cát Tư Hãn en profil (chân dung nhìn nghiêng), chỉ thấy con mắt tinh, còn con mắt chột được che khuất trong nửa không nhìn thấy của khuôn mặt. Hoàng đế nhà Nguyên xem tranh và khen: “<em>Đây mới thực sự là hiện thực xã hội chủ nghĩa!</em>”, rồi truyền ban thưởng cho hoạ sĩ.</p>
<p>Trong tác phẩm “<em>Trí thức và vai trò của nó trong quá trình văn hoá</em>”, Vitaly Tepikin đã tổng hợp và đề xuất 10 dấu hiệu của giới trí thức hiện đại là <a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftn7">[7]</a></p>
<p>1 – có lý tưởng đi trước thời đại, nhạy cảm với người xung quanh, lịch sự nhũn nhặn trong biểu hiện;</p>
<p>2 – tích cực lao động trí óc và liên tục tự học;</p>
<p>3 – ái quốc dựa trên niềm tin vào nhân dân và có tình yêu quê hương sâu sắc;</p>
<p>4 – sáng tạo không mệt mỏi và có lối sống giản dị đến khổ hạnh;</p>
<p>5 – độc lập, có khát vọng đạt tới tự do biểu hiện, và tìm thấy mình trong khát vọng đó;</p>
<p>6 &#8211; có quan hệ phê phán đối với chính quyền, lên án mọi biểu hiện của bất công, vô nhân đạo, phản nhân văn, phản dân chủ;</p>
<p>7- trung thành với niềm tin do lương tâm mình mách bảo, ngay cả trong những điều kiện khó khăn nhất, kể cả phải hy sinh quyền lợi bản thân;</p>
<p>8 – nhận thức thực tế một cách mơ hồ, dẫn đến dao động về chính trị và đôi khi có biểu hiện bảo thủ;</p>
<p>9 – Có niềm oán hận lớn trước những gì không thực hiện được trên thực tế hoặc trong tưởng tượng, kết quả là đôi khi trở nên hoàn toàn khép kín tự cô lập mình;</p>
<p>10 – Các nhà hoạt động chuyên môn trong các lĩnh vực khác nhau, và ngay cả trong cùng một lĩnh vực, thường hiểu lầm nhau, hậu quả là đôi khi nổi cơn ích kỷ hoặc bốc đồng.</p>
<p>Tepikin cho rằng một cá nhân có ít nhất một nửa số dấu hiệu trên đây có thể được gọi là “<em>trí thức theo nghĩa đại khái của từ đó</em>”. Chuyển sang ngôn ngữ Việt Nam đương đại, có thể tạm gọi những người thoả mãn 5/10 biểu hiện nêu trên là các “<em>trí thức dự khuyết</em>”.</p>
<p>Trong giới những người (thực sự) có học vấn của Việt Nam, đại đa số chắc hội đủ ba dấu hiệu cuối (8 – 10). Những người khoa bảng mà lúc đầu từng hoạt động chuyên môn nhưng sau bỏ để ra làm quan thì khó có thể giữ được các dấu hiệu 2, 4 – 10, nếu không nói rằng hai dấu hiệu còn lại (1 và 3) đối với những người này không phải lúc nào cũng đáng tin cậy.</p>
<p>*</p>
<p>Tương truyền, trong một lần thuyết giảng, triết gia cổ Hy Lạp Plato đã định nghĩa “<em>con người là một động vật đi bằng hai chân và không có lông vũ.</em>” Diogenes – một triết gia cổ Hy Lạp khác – nghe vậy bèn bắt một con gà, vặt sạch lông, thả vào giảng đường, rồi nói: “<em>Các người hãy nhìn kìa, đó là Con Người theo định nghĩa của Plato!</em>” Nghe nói Plato sau đó đã phải thêm “<em>có móng rộng và bẹt</em>” vào định nghĩa “Con Người” của mình.</p>
<p>Gẩn đây có một vài ý kiến của một số “Plato Việt Nam” muốn xác định lại các tiêu chí thế nào là trí thức. Ngay lập tức họ được các “Diogenes Việt Nam” lên tiếng sửa gáy. Đội quân các “Diogenes Việt Nam” rất hùng hậu, có tới cả ngàn. Thay vì sống trong thùng tô nô, họ sống trong các blog. Họ cũng không xách đèn đi tìm người lương thiện giữa ban ngày <a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftn8">[8]</a>, bởi dường như đã biết trước câu trả lời. Họ lại càng không có cơ hội để làm như Diogenes khi gặp Alexander Đại Đế. Theo sử gia Plutarch, khi Alexander Đại Đế tới Corinth, những người đứng đầu thành phố và các triết gia đã lũ lượt kéo nhau tới yết kiến Alexander, chỉ riêng Diogenes vắng mặt. Alexander bèn đích thân đi tìm Diogenes, và thấy ông này đang nằm dài sưởi nắng bên cái thùng ông dùng làm chỗ ngủ. Khi Alexander Đại Đế hỏi: “<em>Hỡi nhà hiền triết, ngươi có muốn ta làm gì giúp ngươi không?</em>”, Diogenes đã trả lời: “<em>Ngài hãy đứng tránh sang một bên để khỏi che lấp ánh mặt trời của tôi.</em>” Các triết gia và đám tùy tùng của Alexander Đại Đế nghe vậy cười phá lên, trong khi chính Alexander Đại Đế nói: “<em>Nếu ta không phải là Alexander thì ta đã là Diogenes</em>.”</p>
<div>
<p style="text-align: center;"><a href="http://nguyendinhdang.files.wordpress.com/2012/01/alexander-the-great-and-diogenes.jpg"><img class="aligncenter" title="Alexander-the-Great-and-Diogenes" src="http://nguyendinhdang.files.wordpress.com/2012/01/alexander-the-great-and-diogenes.jpg?w=450&amp;h=358" alt="" width="450" height="358" /></a></p>
<p style="text-align: center;"><span style="color: #3366ff;"><em>Giovanni Battista Tiepolo, &#8220;Alexander Đại Đế và Diogenes&#8221;, sơn dầu, 47 x 60 cm (1770).<br />
Bảo tàng Cung điện Yusupov tại Saint Petersburg.</em></span></p>
</div>
<p>Tới đây tôi chợt nhớ tới ca từ trong một bài hát của nhóm hip hop Dead Brez:</p>
<p><em>Bạn muốn có một chiếc Lexus hay Công Lý?</em></p>
<p><em>Một ước mơ hay của cải?</em></p>
<p><em>Một chiếc BMW, một chuỗi hạt xoàn, hay Tự Do?</em> <a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftn9">[9]</a></p>
<p>Ca từ này đúng hơn bao giờ hết tại Việt Nam đương đại. Rõ ràng bạn không thể vừa được người ta cấp xe sang (hay tặng nhà to) lại vừa có Tự Do (hay Công Lý). Bạn chỉ có thể chọn một trong hai thứ đó. Lập luận rằng cưỡi xe BMW mới tiến được hoặc tiến nhanh hơn tới Công Lý (hay Tự Do) là ngụy biện, tự dối mình và lừa dối người khác. Đặc biệt, nếu bạn là một người lao động trí óc theo một chuyên môn nào đó, việc bạn chọn cái gì sẽ tự động xếp bạn vào hàng ngũ những “trí thức dự khuyết”, hay vào đám học giả xu thời đang ngày càng lạm phát trên đất nước này.</p>
<p><em>Tokyo, 25/2/2012</em></p>
<div>
<hr size="1" />
<div>
<p><a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftnref1">[1]</a> Tên đầy đủ Đại học Tổng hợp Quốc gia Maxcơva mang tên M.V. Lomonosov (Московский Государственный Университет имени М.В. Ломоносова), viết tắt là MGU (МГУ).</p>
</div>
<div>
<p><a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftnref2">[2]</a> Nguyên văn tiếng Nga: “<em>Интеллектуальные силы рабочих и крестьян растут и крепнут в борьбе за свержение буржуазии и ее пособников, интеллигентиков, лакеев капитала, мнящих себя мозгом нации<strong>. На деле это не мозг, а говно</strong></em><em>”. </em>Trích từ V.I. Lenin, Thư gửi A.M. Gorky ngày 15/9/1919, Toàn tập, Tái bản lần thứ 5, NXB Văn học Chính trị, 1978, tập 51, trang 48-49 (В.И. Ленин, <a href="http://www.mysteriouscountry.ru/wiki/index.php/%D0%9B%D0%B5%D0%BD%D0%B8%D0%BD_%D0%92.%D0%98._%D0%9F%D0%BE%D0%BB%D0%BD%D0%BE%D0%B5_%D1%81%D0%BE%D0%B1%D1%80%D0%B0%D0%BD%D0%B8%D0%B5_%D1%81%D0%BE%D1%87%D0%B8%D0%BD%D0%B5%D0%BD%D0%B8%D0%B9_%D0%A2%D0%BE%D0%BC_51_%D0%9F%D0%B8%D1%81%D1%8C%D0%BC%D0%B0:_%D1%81%D0%B5%D0%BD%D1%82%D1%8F%D0%B1%D1%80%D1%8C_1919_%D0%B3.">Из письма А.М. Горькому от 15 сентября 1919 года</a>, Полное собрание сочинений, издание пятое Изд-во политической литературы, 1978 г. т. 51, стр. 48-49) (Xem bản tiếng Anh <a href="http://www.loc.gov/exhibits/archives/g2aleks.html">tại đây</a>)</p>
</div>
<div>
<p><a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftnref3">[3]</a> Nikolai Alexandrovich Berdyaev (Николaй Алексaндрович Бердяев) (1874 – 1948) – triết gia Nga; thời Sa Hoàng, do tham gia nhóm Marxist nên từng bị bắt năm 20 tuổi và bị đày biệt xứ; năm 29 tuổi do chỉ trích Nhà Thờ Chính thống Nga nên bị kết tội báng bổ và bị đày đi Siberia; dưới thời Xô Viết do không chịu chấp nhận chính thể của đảng Bolshevik áp đặt sự thống trị của nhà nước độc tài lên tự do cá nhân, nên đã bị chính quyền Xô Viết trục xuất cùng hơn 160 nhà văn và học giả danh tiếng khác sang Đức bằng tàu thủy vào tháng 9/1922 (từ một danh sách gồm 280 người bị bắt trong đó có 32 sinh viên).</p>
</div>
<div>
<p><a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftnref4">[4]</a> New World Encyclopedia, <a href="http://www.newworldencyclopedia.org/entry/Great_Purges">http://www.newworldencyclopedia.org/entry/Great_Purges</a>;</p>
<p>Heroes &amp; Killers of 20the Century: Joseph Stalin: <a href="http://www.moreorless.au.com/killers/stalin.html">http://www.moreorless.au.com/killers/stalin.html</a></p>
</div>
<div>
<p><a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftnref5">[5]</a> Theo báo cáo của Cao ủy Liên Hiệp Quốc về người tị nạn, 1/3 số thuyền nhân (boat people) Việt Nam đã chết trên biển vì bị giết, bão, bệnh tật, đói. <a href="http://www.vietka.com/Vietnamese_Boat_People/HorribleStatistics.htm" target="_blank">Thống kê của Cao ủy này</a> cho biết chỉ riêng năm 1981 có 15095 thuyền nhân Việt Nam đã vượt biên từ Việt Nam tới được Thái Lan trên 455 thuyền. Trong số đó có 352 thuyền (77%) bị bọn hải tặc tấn công. Số vụ tấn công là 1149 tức trung bình mỗi chiếc thuyền bị hải tặc tấn công hơn 3 lần. 571 người Việt Nam đã bị hải tặc giết. 599 phụ nữ Việt Nam đã bị hải tặc hãm hiếp. 243 người Việt Nam đã bị bắt cóc.</p>
</div>
<div>
<p><a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftnref6">[6]</a> <a href="http://books.google.co.jp/books?id=AkIhYEavBrEC&amp;pg=PA276&amp;lpg=PA276&amp;dq=how+many+intellectuals+fled+Vietnam+after+1975&amp;source=bl&amp;ots=JwGRWgzVte&amp;sig=bEHHmdlusB8bmUCM6WFIK3UHp3s&amp;hl=en&amp;sa=X&amp;ei=hAIhT5uvO5GSiAfatITXBA&amp;sqi=2&amp;redir_esc=y#v=onepage&amp;q=how%20many%20intellectuals%20fled%20Vietnam%20after%201975&amp;f=false" target="_blank"><em>Postwar Vietnam: Dynamics of a transforming society</em></a>, Ed. Hy V. Luong, (Rowman &amp; Littlefield Publishers Inc., 2003).</p>
</div>
<div>
<p><a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftnref7">[7]</a> Виталий Тепикин, <em><a href="http://zhurnal.lib.ru/t/tepikin_w_w/intelligencijaeerolxwkulxturnomprocesse.shtml">Интеллигенция, ее роль в культурном процессе</a></em>. Vitaly Tepikin là tiến sĩ lịch sử, chuyên gia về lý thuyết và lịch sử trí thức, giáo sư thuộc viện Tri thức khoa học tự nhiên Nga (Российская академия естествознания).</p>
</div>
<div>
<p><a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftnref8">[8]</a> Diogenes từng xách đèn đi ngoài phố giữa ban ngày. Khi được hỏi làm gì đấy, ông trả lời: “<em>Tôi đi tìm một người lương thiện</em>.” Tương truyền ông chỉ gặp toàn bọn bất lương và vô lại.</p>
</div>
<div>
<p><a href="http://nguyendinhdang.wordpress.com/#_ftnref9">[9]</a> Nguyên văn: <em>You would rather have a Lexus or</em><em> J</em><em>ustice? A dream or some substance? A Beamer, a necklace or </em><em>F</em><em>reedom?</em></p>
<p style="text-align: justify;"><strong>Nguyễn Đình Đăng sinh năm 1958 tại Hà Nội. Tốt nghiệp Đại học Nhà nước Moscow vào năm 1982. Tiến sĩ khoa học vật lý và toán học năm 1990 tại cùng một trường đại học. Ông đã đến Nhật Bản trong năm 1994 như là một nhà nghiên cứu của Nishina Memorial Foundation và tham gia RIKEN vào năm 1995. Hiện nay, ông nghiên cứu khoa học của Phòng thí nghiệm Vật lý hạt nhân tại Nhật Bản, đồng thời phục vụ như một nhà khoa học cấp cao tại Viện Khoa học và Kỹ thuật hạt nhân của Viện Năng lượng nguyên tử Việt Nam, nơi ông đã nhận vị trí cố định của mình vào năm 1982. Hội viên của hội Mỹ thuật Việt Nam và Hiệp hội Cá nhân-Artist Nhật Bản. Ông cũng nói thành thạo tiếng Việt, tiếng Anh, Nga, và tiếng Pháp.</strong></p>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/2012/01/27/nguy%e1%bb%85n-dinh-dang-tri-th%e1%bb%a9c/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>NGUYỄN TRỌNG TẠO – NGƯỜI CHỌN THƠ LÀM NGHIỆP</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/2012/01/27/nguy%e1%bb%85n-tr%e1%bb%8dng-t%e1%ba%a1o-%e2%80%93-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ch%e1%bb%8dn-th%c6%a1-lam-nghi%e1%bb%87p/</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/2012/01/27/nguy%e1%bb%85n-tr%e1%bb%8dng-t%e1%ba%a1o-%e2%80%93-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ch%e1%bb%8dn-th%c6%a1-lam-nghi%e1%bb%87p/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 26 Jan 2012 22:46:50 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chủ bút]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Trọng Tạo]]></category>
		<category><![CDATA[Phê bình]]></category>
		<category><![CDATA[Tiêu điểm]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[CAO XUÂN PHÁT]]></category>
		<category><![CDATA[NGUYỄN TRỌNG TẠO]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=17048</guid>
		<description><![CDATA[(Bài in trên tạp chí Nhà Văn số Tết Nhâm Thìn 2012) CAO XUÂN PHÁT Người ta thường gọi Nguyễn Trọng Tạo là “nhà thơ – nhạc sĩ”, lại có người gọi ông là “nhà báo – họa sĩ”. Người nghệ sĩ nổi tiếng đa tài này phải sắm quá nhiều vai trong làng văn [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><em><a rel="attachment wp-att-17053" href="http://nguyentrongtao.org/2012/01/27/nguy%e1%bb%85n-tr%e1%bb%8dng-t%e1%ba%a1o-%e2%80%93-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ch%e1%bb%8dn-th%c6%a1-lam-nghi%e1%bb%87p/nhavantet2/"><img class="alignright size-medium wp-image-17053" title="nhavantet2" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2012/01/nhavantet2-208x300.jpg" alt="" width="208" height="300" /></a>(Bài in trên tạp chí Nhà Văn số Tết Nhâm Thìn 2012)</em></p>
<p><strong>CAO XUÂN PHÁT</strong></p>
<p>Người ta thường gọi Nguyễn Trọng Tạo là “nhà thơ – nhạc sĩ”, lại có người gọi ông là “nhà báo – họa sĩ”. Người nghệ sĩ nổi tiếng đa tài này phải sắm quá nhiều vai trong làng văn nghệ, thậm chí nghĩ đến rượu là người ta cũng lại gọi ông để cuộc rượu thêm vui. Nhưng trong một bài trả lời phỏng vấn báo chí, ông đã thổ lộ rằng, “Thơ mới là cái nghiệp của tôi”. </p>
<p>Hôm ông ra mắt tập sách sơ tuyển “<em>Thơ và Trường ca</em>” tại Trung tâm Văn Hóa Đông Tây, tôi ghé đến vào buổi tối, thấy rất đông người đang vừa uống rượu vừa nghe ông trò chuyện về thơ và nghe các ca sĩ hát những bài hát phổ thơ. Những bài hát người ta phổ thơ ông và những bài hát ông phổ thơ thi hữu. Một cuộc ra mắt sách thật ấn tượng, kéo dài suốt từ 9 giờ sáng đến 10 giờ đêm. Cầm tập sách dày gần 600 trang do ông ký tặng, tôi run run cảm động không chỉ vì tình cảm chân thành của ông dành cho độc giả, mà còn thấy cảm phục trước sức sáng tạo cường tráng của ông cho nghệ thuật. Riêng thơ, ông cũng đã có đủ cả nghìn trang… </p>
<p>Tôi chăm chú đọc thơ ông từ hồi còn sinh viên. Bài thơ mà bọn sinh viên chúng tôi hồi đó thường chép vào sổ tay là bài thơ “<em>Không đề</em>” ông viết khi đến Qui Nhơn thăm người bạn là nhà thơ Ngô Thế Oanh. Theo ông kể lại thì lúc ấy thấy trên bàn bạn ông bức ảnh một thanh nữ có đôi mắt rất giống đôi mắt người yêu cũ của bạn. Thế là bài thơ tặng bạn được viết ra. Đó là một bài thơ thật buồn và thật đẹp cứ ám ảnh mãi người đọc: </p>
<p><em>…anh trót để ngôi sao bay khỏi cát</em></p>
<p><em>biếc xanh em, mãi chớp sáng vòm trời</em></p>
<p><em>điều CÓ THỂ đã hoá thành KHÔNG THỂ </em></p>
<p><em>biển bạc đầu nông nổi tuổi hai mươi&#8230;</em> </p>
<p>Lần đầu đọc bài thơ ấy tôi cứ tưởng ông viết để tặng mối tình đầu của mình. Vâng mối tình đầu thì bao giờ cũng đẹp và… buồn. Nhưng thơ tình của ông không phải để kể lại câu chuyện đẹp và buồn, mà vượt lên trên là sự chiêm nghiệm về tình yêu với những triết lý sâu xa. Đó là “bí mật” tài tình của nhà thơ, như có dây rợ vô hình buộc mãi vào lòng người. Đó cũng là cái khác của ông với nhiều nhà thơ tình khác. Thơ tình của Nguyễn Trọng Tạo được nhiều người thích là vì vậy. Ông đẩy đến tận cùng cả những điều người khác không dám viết ra, nên người ta thấy thơ ông thật, như ông từng quan niệm “<em>Thơ chưa hay thì thơ nói thật lòng</em>”, nghĩa là làm sao nói ra được sự thật trong lòng mình dù có thế nào chăng nữa. Câu thơ khao khát sự thật đó làm nhiều người phải ngẫm ngợi, còn nữ nhà thơ Mỹ Mary E. Croy thì thán phục “<em>đó là một câu thơ lỗi lạc của Nguyễn Trọng Tạo. Câu thơ ấy đã trải tôi phẳng lì khi tôi đọc nó, bởi sự thông thái của một nhà thơ &#8211; người không những hiểu nghệ thuật của ngôn từ, mà còn hiểu về quá trình đời sống</em>”. Đúng vậy, ông đã đẩy tận cùng đời sống vào thơ: </p>
<p><em>tôi yêu em, tôi tìm điều dễ ghét</em></p>
<p><em>ở trong em. Em đừng vội giận hờn</em></p>
<p><em>em yêu tôi em tìm điều đáng ghét</em></p>
<p><em>ở trong tôi. Và em hiểu tôi hơn</em> </p>
<p>Và khi ông viết: “<em>những ngọn gió chẳng hề mang tư tưởng/ cũng thổi dịu mùa hè, thổi buốt mùa đông</em>” thì chính là lúc ông đã đẩy thơ lên một tầm tư tưởng mới từ triết lý về tính đối lập-thống nhất hai mặt của tình yêu và cuộc sống. Cách nói về tình yêu trong thơ Nguyễn Trọng Tạo luôn đa chiều, nhiều cung bậc, nhưng dù hạnh phúc hay đau buồn thì vẫn thể hiện một sự sống hết mình cho tình yêu: </p>
<p><em>chia cho em một đời say</em></p>
<p><em>một cây si </em></p>
<p><em>               với </em></p>
<p><em>                    một cây bồ đề</em></p>
<p><em>tôi còn đâu nữa đam mê</em></p>
<p><em>trời chang chang nắng tôi về héo khô</em> </p>
<p>Bài thơ “Chia” của ông đã được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc và được hát lên ở khắp nơi đặc biệt là với những người trẻ tuổi. Cho đến khi đã lục tuần, ông vẫn viết thơ tình đam mê và mãnh liệt, chỉ trong 2 năm đã có mấy chục bài thơ để xuất bản thành tập “<em>Em Đàn Bà</em>” làm ngỡ ngàng độc giả bởi bút pháp trẻ trung và hiện đại. Tôi không ngạc nhiên khi đọc những nhận xét của Mary E. Croy so sánh thơ tình của ông với Pablo Neruda – nhà thơ Chile từng đoạt giải Nobel: “<em>Nhưng có lẽ hơn tất cả, có sự tương đồng giữa thơ Nguyễn Trọng Tạo với thơ của Pablo Neruda. Rất nhiều bài thơ tràn đầy nhạc điệu tình yêu &#8211; điều này làm chúng rất ám ảnh. Đối với cả Nguyễn Trọng Tạo và Neruda, bài hát tình yêu được sức mạnh thiên nhiên giải thoát khỏi những đè nén nhân tạo. Trong thơ của cả hai người, ta có cảm giác rằng tình yêu có cuộc sống riêng của nó, không bị ràng buộc bởi người yêu và người được yêu</em>”. Nhận xét đó khiến tôi nhớ lại bài “<em>Thơ tình gửi người không quen</em>” của ông viết về thời chống Mỹ cứu nước. Bài thơ là tâm sự của một người lính bị thương được một cô gái cõng đi dưới bom đạn: “<em>là khi chợt tỉnh cơn mê/ nhận ra mái tóc bộn bề ngực tôi/ là khi tim đập bồi hồi/ nhận ra gương mặt của người&#8230; không quen</em>”. Và đoạn kết bài thơ như một bài ca nhân văn đi tìm người không quen để tri ân: </p>
<p><em>cho thơ tôi được nói lời</em></p>
<p><em>tình-yêu-tôi, gửi tới người-tôi-yêu</em></p>
<p><em>bởi tôi tin những sớm chiều:</em></p>
<p><em>người không quen&#8230; sống rất nhiều cho tôi</em> </p>
<p>Lối triết lý thật giản dị trong thơ Nguyễn Trọng Tạo luôn mang tính nhân văn sâu sắc, bởi đó là những chiêm nghiệm cuộc đời, những cảm xúc lạ của một tâm hồn thi sĩ đa đoan.  </p>
<p>* </p>
<p>Thơ Nguyễn Trọng Tạo thường đặt ra những câu hỏi nóng bỏng trước đời sống và thời cuộc. Những câu hỏi không dễ trả lời. Và ông tìm cách trả lời những câu hỏi đó. Ông trả lời với tư cách người lính, tư cách công dân và tư cách nhà thơ. Đó là khi thơ đã đẩy tới hoài nghi để làm sáng tỏ bản chất của sự vật, đẩy tới bi kịch để tìm đến lạc quan, đẩy tới cái ác để nhận ra chân thiện mỹ&#8230;  Những bài thơ viết về chiến tranh của ông làm lay động tâm hồn người lính một cách chân thực hiếm thấy: </p>
<p><em>Em ơi em, em trong trắng vô tư<br />
Nếu em đã đem lòng yêu người lính<br />
Giờ tan ca đừng mong người yêu đón<br />
Ngước sao trời hãy tin đấy là anh!</em> </p>
<p>Nếu em là vợ lính, dẫu thời bình<br />
Hãy xem bài cho con sau mỗi lần tan học<br />
Con khó bảo đừng một mình ngồi khóc<br />
Đừng đợi anh xách nước thổi cơm chiều</p>
<p>Phải chăng đấy chính là cách trả lời cho cuộc sống thời chiến nhiều vất vả hy sinh? Những câu thơ như vậy không chỉ chia sẻ với người lính mà còn chia sẻ với cả hậu phương một thời trận mạc. Có thể nói, trong những ngày gian khó nhất của đất nước sau cuộc chiến 20 năm và tiếp theo là cuộc chiến tranh biên giới, thơ Nguyễn Trọng Tạo không hề lên gân, mà ông lặng lẽ lý giải nó bằng những bài thơ gan ruột. “<em>Tản mạn thời tôi sống</em>” là một bài thơ như thế, bài thơ đã làm chấn động lòng người ngay khi nó vừa được công bố trên báo Văn Nghệ (9/1981) với câu hỏi được lặp lại: “<em>Thời tôi sống có bao nhiêu câu hỏi</em>/ <em>Câu trả lời thật không dễ dàng chi”. </em>Và sự thật trong câu hỏi đó là gì? Là một thời đại rất nhiều lo âu, bạn-thù, cũ-mới, anh hùng và phản trắc… </p>
<p><em>Khi đang đắm yêu nào tin được bao giờ</em></p>
<p><em>rồi một ngày người yêu ta đổi dạ</em></p>
<p><em>rồi một ngày thần tượng ta tan vỡ</em></p>
<p><em>bạn bè thân thọc súng ở bên sườn</em></p>
<p><em>……..</em></p>
<p><em>như con chiên sùng đạo chợt bàng hoàng</em></p>
<p><em>nhận ra chúa chỉ ghép bằng đất đá</em></p>
<p><em>thời tôi sống thêm một lần súng nổ</em></p>
<p><em>trái tim đau rỏ máu dọc biên thùy!</em> </p>
<p>Có người nói đó là thơ “dự báo” cho một thời “đổi mới” đang đến và phải đến. Trong cuộc ra mắt tập “<em>Thơ và Trường ca</em>”, nhà phê bình Văn Giá cũng đã nhấn mạnh “tính dự báo” trong thơ Nguyễn Trọng Tạo và dẫn ra một câu thơ thể hiện quan niệm của ông: “<em>Câu thơ đi tiền trạm những hồn người</em>”. Tôi hiểu ý nghĩa rằng, trong chiến tranh có những người giao liên đi tiền trạm để dẫn những đoàn quân đi vào chiến trận. Chữ “tiền trạm” đã được dùng một cách sáng tạo khi ông nói về quan niệm thơ của mình. Nhưng ông luôn nhận ra quy luật phát triển của tự nhiên và xã hội, và như đã nói ở trên, thơ ông luôn đặt ra những câu hỏi mới: “<em>và khi ấy những câu hỏi bây giờ/ được thay thế bằng những câu hỏi khác</em>”, thậm chí 10 năm sau ông lại nhận ra sự thay đổi thật bất ngờ: “<em>Có câu trả lời biến thành câu hỏi</em>”… Tính dự báo trong thơ Nguyễn Trọng Tạo chính là sự nhận ra quy luật vận động không ngừng nghỉ của đời sống bằng con mắt thứ ba – con mắt nhạy cảm của nhà thơ. Nhưng Nguyễn Trọng Tạo không làm ra vẻ quan trọng hay nghiêm trọng những điều đó. Ông có cách nói tưng tửng khá ngộ nghĩnh kiểu “tin thì tin không tin thì thôi”, nhưng sau cái vẻ tưng tửng ấy, lại là một tấm lòng gan ruột đầy trách nhiệm của người thi sĩ: “<em>Nhưng tôi người cầm bút, than ôi/ Không thể không tin gì mà viết</em>”. </p>
<p>Vì thế, con người công dân trong thơ ông nhiều lúc thật mạnh mẽ. Tôi đọc trong tập sơ tuyển này 2 trường ca của ông, một trường ca được trích đoạn (<em>Tình ca người lính</em>) và một trường ca in trọn vẹn – “<em>Con đường của những vì sao</em>” (Trường ca Đồng Lộc). Cả 2 trường ca này đều mang tính sử thi nhưng là “sử thi lãng mạn”. Và tôi cảm nhận được từ đó, cuộc kháng chiến thật hào hùng nhưng cũng rất trữ tình. Những cặp đối lập được ông khai thác khá nhiều để nói về cuộc chiến, và đều mang tới hiệu quả là làm xúc động lòng người: </p>
<p><em>đất và đá</em></p>
<p><em>yếu mềm và cứng rắn</em></p>
<p><em>cán xẻng với tay người</em></p>
<p><em>đòn gánh với vai người</em></p>
<p><em>con đường và trái núi</em></p>
<p><em>phá và xây ngày tháng đỡ đần nhau&#8230;</em> </p>
<p>Nhiều nhà thơ đã`viết về cuộc “chiến tranh nhân dân” thời chiến, nhưng với Nguyễn Trọng Tạo, nhân dân hiện lên thật gần gũi và thật đáng khâm phục: </p>
<p><em>Nhân Dân sống Nhân Dân làm lụng</em></p>
<p><em>áo vá vai lòng thơm thảo lành nguyên</em></p>
<p><em>Nhân Dân căm hờn như núi dựng chông</em></p>
<p><em>Nhân Dân yêu thương đồng dâng gạo trắng</em></p>
<p><em>bom đạn giặc từ trời cao ném xuống</em></p>
<p><em>Nhân Dân từ ruột đất trồi lên!</em> </p>
<p>Viết trường ca cần một dòng cảm xúc lớn, cần một nhà tổ chức, thiết kế và xây dựng sáng suốt linh hoạt. <em>Trường ca Đồng Lộc</em> với hai nghìn rưởi câu thơ chia làm 10 chương  và một “Khúc hát tặng” thay lời ngỏ của tác giả đã dựng lên một “bức tượng đài bằng thơ” về cuộc chiến đấu ở Ngã ba Đồng Lộc lịch sử. Điều đó chứng tỏ cả tài năng lẫn đam mê của ông với một đề tài lớn. Nó cũng khẳng định thêm tầm vóc của nhà thơ trên hành trình thơ của ông. </p>
<p>* </p>
<p>Trở lại với nghệ thuật thơ Nguyễn Trọng Tạo, khi đọc trọn cuốn sơ tuyển này, tôi thấy ông có nhiều giai đoạn sáng tạo trong hành trình thơ của mình. Có thể chia ra ba giai đoạn: Thơ thời chiến đến hậu chiến – Thơ thời “đổi mới” – và Thơ thời hiện tại. Nhìn vào “bản đồ” thơ ông dễ thấy các mảng màu tối sáng khác nhau: hồng, xanh và xanh đậm. <em>Thời kỳ hồng</em> là thời kỳ ông thoát dần ra khỏi “dòng thơ chiến tranh” để hướng tới sự thật trần trụi của đời sống một cách quyết liệt. <em>Thời kỳ xanh</em> là thời kỳ ông lắng lại “làm nhòe” các con chữ để tạo ra nhiều nghĩa và cảm giác cho thơ, như một cách tân phương đông với những suy tư nghiền ngẫm triết lý về cuộc đời. <em>Thời kỳ xanh đậm</em> là thời kỳ ông phóng bút tạo dựng những ấn tượng ngôn ngữ kết hợp Đông-Tây nhuần nhuyễn trong cả những âm hưởng libido huyễn ảo. Nhìn chung, ông kết hợp giữa truyền thống và hiện đại trong hành trình làm mới thơ một cách uyển chuyển và dễ chịu khi chủ trương trì tục nhịp chẵn của thơ Việt: </p>
<p><em>Có thương có nhớ có khóc có cười</em></p>
<p><em>Có cái chớp mắt đã nghìn năm trôi…</em> </p>
<p>Trong phần “<em>Thư trên máy chữ…”</em> với nhiều bài thơ như những bức thư nói lên quan điểm nghệ thuật của mình đầy suy tư, trăn trở gửi những người đồng nghiệp và cả bạn đọc, Nguyễn Trọng Tạo đã đề cập đến những vấn đề Nghệ thuật và Đời sống, Nghệ thuật và Xã hội, Nghệ thuật và Nghệ thuật… Ông cho rằng, nhà thơ “<em>không phải khách ăn theo không phải thợ gặt giùm</em>” mà phải là “<em>ngoài đời những gì chưa được thắp/ đã sáng lên trong trái tim nhà thơ</em>” và “<em>ngoài đời những gì đã tắt/ lại cháy lên đầu ngòi bút nhà thơ</em>”.   </p>
<p>Nguyễn Trọng Tạo là người cổ súy đổi mới thơ nồng nhiệt, ông cũng là người “bảo kê cho thơ trẻ” (chữ của Ngô Minh) quyết liệt, và nhiều nhà thơ trẻ đầy cá tính sáng tạo đã trưởng thành. Nhưng có người cho rằng, Nguyễn Trọng Tạo “xúi” bọn trẻ cách tân thơ, còn ông thì cứ làm thơ truyền thống. Theo tôi, nhận định đó không đúng với trường hợp của ông. Đọc cuốn “<em>Nguyễn Trọng Tạo &#8211; Thơ và Trường ca</em>” mới thấy hết sự nỗ lực cách tân rất dụng công của ông, đúng như ông nói, “Cách tân theo hướng phương Tây thì nhiều người làm, nhưng cách tân theo hướng phương Đông, nghĩa là làm mới thơ truyền thống mới là thậm khó”. Và trong mắt tôi, ông đã làm được điều đó. Chính nhà thơ Vũ Cao lúc sinh thời cũng đã nhìn ra sự khác biệt của Nguyễn Trọng Tạo khi ông viết: “<em>Anh như một người lẻ loi đứng trên các nẻo đường, mặc cho các lớp người cứ trùng điệp ồn ào qua lại. Thật khó xếp Nguyễn Trọng Tạo vào một lớp nhà thơ nào. Ngòi bút anh thoải mái nói những điều không dễ nói ra</em>”. Còn nhà văn Nguyễn Đình Thi thì cho rằng: “<em>Khác hẳn những nhà thơ không hiểu chính mình đang viết gì, Tạo không viết những câu thơ bí hiểm, không viết những câu thơ tự đánh đố mình và đánh đố bạn đọc để làm ra vẻ mình là một nhà thơ có tư duy cao. Thơ Tạo thể hiện tư duy của chính Tạo, không phải tư duy vay mượn của người khác</em>”, và ông khẳng đinh: “<em>Trên bảng ghi công những văn nghệ sĩ đổi mới thực sự và đổi mới hiệu quả, có tên Nguyễn Trọng Tạo</em>”. </p>
<p>Cho dù Nguyễn Trọng Tạo có nhiều bài hát nổi tiếng nhưng ông vẫn gắn bó sống chết với thơ và chỉ nhận thơ làm nghiệp. Mà không chỉ làm thơ, ông cũng là người làm nên Báo Thơ, vẽ nên Cờ Thơ, viết hàng trăm bài phê bình thơ, phổ nhạc cho thơ, và cũng từng là ủy viên Hội đồng Thơ. Đôi lúc tôi cứ nghĩ vơ vẩn rằng, không biết Nguyễn Trọng Tạo đã chọn thơ làm nghiệp hay là chính thơ đã chọn ông?   </p>
<p><em>Tháng 11/2011</em> </p>
<p>_________ </p>
<p>Ghi chú: Những trích dẫn trong bài có nguồn từ cuốn “<em>Nguyễn Trọng Tạo &#8211; Thơ và Trường ca</em>” và một số bài viết trên Internet.</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/2012/01/27/nguy%e1%bb%85n-tr%e1%bb%8dng-t%e1%ba%a1o-%e2%80%93-ng%c6%b0%e1%bb%9di-ch%e1%bb%8dn-th%c6%a1-lam-nghi%e1%bb%87p/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>‘Cởi truồng đứng giữa ngã tư’</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/2012/01/26/%e2%80%98c%e1%bb%9fi-tru%e1%bb%93ng-d%e1%bb%a9ng-gi%e1%bb%afa-nga-t%c6%b0%e2%80%99/</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/2012/01/26/%e2%80%98c%e1%bb%9fi-tru%e1%bb%93ng-d%e1%bb%a9ng-gi%e1%bb%afa-nga-t%c6%b0%e2%80%99/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 26 Jan 2012 10:09:13 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Báo chí]]></category>
		<category><![CDATA[Hội họa]]></category>
		<category><![CDATA[Mỹ thuật]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[DƯƠNG PHẠM]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=17042</guid>
		<description><![CDATA[DƯƠNG PHẠM Viết cho BBCVietnamese.com từ London  Sự xuất hiện của tranh khỏa thân phụ thuộc vào những cái lắc và gật đầu hơn là vào giá trị của tranh  Nhân đọc bài báo ‘Chuyện rắc rối từ một bức tranh’ trên website của báo Thể thao Văn hóa, tôi lại bần thần nghĩ đến [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>DƯƠNG PHẠM</strong></p>
<div>
<div>
<p><em>Viết cho BBCVietnamese.com từ London</em> </p>
</div>
</div>
<div>
<div>
<div>
<div><img class="aligncenter" src="http://www.bbc.co.uk/worldservice/assets/images/2009/04/090415154120_512_288_kim_dinh.jpg" alt="Ảnh khỏa thân không được duyệt của họa sỹ Nguyễn Kim Đính" width="512" height="288" /></div>
<p style="text-align: center;"><em><span style="color: #3366ff;">Sự xuất hiện của tranh khỏa thân phụ thuộc vào những cái lắc và gật đầu hơn là vào giá trị của tranh</span></em> </p>
</div>
</div>
<p><strong>Nhân đọc bài báo ‘Chuyện rắc rối từ một bức tranh’ trên website của báo Thể thao Văn hóa, tôi lại bần thần nghĩ đến hàng loạt những triển lãm tranh, ảnh nude bị đình chỉ và đến những ‘đống’ tác phẩm bị xếp xó bởi một lý do vô cùng kiên định: ‘Trái với thuần phong mỹ tục’. Kể ra nghệ sĩ nước nhà cũng cứng đầu, bao lần bị từ chối mà vẫn cứng đầu theo đuổi con đường ‘nghệ thuật cởi truồng’ (dịch một cách dân dã của cụm từ ‘art nude’). </strong></p>
<p>Khi tôi học cấp I, mỗi khi có cảnh hôn nhau trên tivi, bố mẹ đều bảo tôi nhắm mắt. Tôi hỏi tại sao, bố mẹ tôi bảo ‘vì đây là chuyện của người lớn’. Đến khi học cấp II, mỗi khi có cảnh trai gái sờ soạng, tôi vẫn phải bịt mắt. Tại sao? ‘Tại con chưa đến tuổi’. Khi tôi học cấp 3, theo thông thường nếu có cảnh trai gái làm tình tôi vẫn sẽ phải bịt mắt nhưng truyền hình Việt Nam thì kiếm đâu ra cảnh làm tình nên bố mẹ tôi đành phải dặn trước, ‘nếu chẳng may thấy cảnh đó ở đâu thì vẫn phải bịt mắt nhé, con vẫn chưa đến tuổi’.</p>
<p>Rồi lần đầu tiên trong đời tôi xem một bức ảnh nude là đọc những câu thơ trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, ‘Rõ màu trong ngọc trắng ngà/Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên’. Lần thứ hai thì là một bức ảnh nude thật sự, của Helmut Newton, bố và tôi cùng ngắm và im lặng.</p>
<div id="attachment_17045" class="wp-caption alignright" style="width: 256px"><a rel="attachment wp-att-17045" href="http://nguyentrongtao.org/2012/01/26/%e2%80%98c%e1%bb%9fi-tru%e1%bb%93ng-d%e1%bb%a9ng-gi%e1%bb%afa-nga-t%c6%b0%e2%80%99/duongpham2/"><img class="size-full wp-image-17045" title="DuongPham2" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2012/01/DuongPham2.jpg" alt="" width="246" height="205" /></a><p class="wp-caption-text">Dương Phạm</p></div>
<p>Giả sử lúc đấy bố tôi có cấm tôi xem những bức ảnh nude của Helmut Newton hoặc Irving Penn với lý do là ‘chưa đến tuổi’ thì tôi vẫn thấy dễ chịu hơn là lý do ‘trái với thuần phong mỹ tục’. Tôi đoán là một số bạn bè nhiếp ảnh và hội họa của tôi cũng sẽ dễ chịu hơn nếu nhà nước cấm họ triển lãm tranh, ảnh nude vì ‘chưa đến tuổi’ hoặc ‘vẽ/chụp quá xấu’ hơn là ‘vi phạm thuần phong mỹ tục’. Nên chăng nhà nước ra một định nghĩa rõ ràng về việc ‘trái với thuần phong mỹ tục’ để anh em nghệ sĩ đỡ mất công trên con đường sáng tác nghệ thuật?</p>
<p>Bức tranh ‘cởi truồng đứng giữa ngã tư’ (hay còn có tên chính thức là Dậy thì) của nữ họa sĩ trẻ Hà Quỳnh Nga thì có một chặng đường gian truân riêng. Bị hạ xuống khi có một vị quan chức lắc đầu, rồi sau đấy được nhắc lên khi có một vị quan chức khác gật đầu. Nghĩa là nhắc lên hạ xuống không còn phụ thuộc vào chất lượng của bức tranh nữa rồi mà phụ thuộc vào những cái lắc, gật đầu.</p>
<p><strong>Nhàm </strong></p>
<p>Tôi nhớ đến năm thứ hai đại học khi đi làm cho một công ty quảng cáo. Công ty này nhận thầu làm quảng cáo cho dịch vụ viễn thông của ngành bưu điện.</p>
<p>Team của tôi ngày đêm ra sức nghĩ cách viết sao cho kịch bản quảng cáo của mình thật độc đáo và sinh động nhưng rồi đến ngày đi gặp các vị lãnh đạo cao cấp, sếp tôi đưa ra hai bản thảo nào đó khác và nói bọn tôi đừng buồn vì chắc là hai kịch bản này sẽ được chọn.</p>
<p>Và hai kịch bản đó được chọn thật.</p>
<p>Đó là lý do vì sao người tiêu dùng Việt Nam sẽ chỉ được nhìn đi nhìn lại hai mẫu quảng cáo đã quá nhàm, đứng trên cầu thang cuốn nói chuyện điện thoại và bỗng nhiên gặp một ai đó hoặc là bác nông dân, bác tri thức, bác giám đốc gọi điện về cho gia đình nói chuyện.</p>
<p>Quảng cáo bây giờ có thể đã khác ngày xưa nhưng nó khiến tôi hiểu một điều, Tiến sĩ ngành Luật không thể hướng dẫn sinh viên ngành Y làm luận án tốt nghiệp.</p>
<p><strong>Giữa ngã tư đường</strong></p>
<p>Vậy thì làm sao chúng ta có thể hy vọng các quan chức chỉ chuyên đi họp và tiếp khách có thể duyệt và cấp phép những tác phẩm nghệ thuật? Nhưng chúng ta cũng chẳng nên buồn, bởi chuyện này cũng xảy ra ở các nước được coi là tiên phong về nghệ thuật, ví dụ như ở Anh.</p>
<p>Cách đây ít lâu, quảng cáo cho triển lãm của họa sĩ người Đức Lunas Cranach trong hệ thống ga điện ngầm tại London đã bị gỡ bỏ do việc sử dụng một trong những tác phẩm của họa sĩ này, bức ‘Venus’, bị coi là ‘quá suồng sã, khiếm nhã’. Bức tranh miêu tả Venus trong trạng thái khỏa thân, chỉ với một vài trang sức đeo trên cổ và tay nâng một tấm màn trong suốt.</p>
<p>Sự việc gây ra một loạt những phản đối từ giới hoạt động nghệ thuật và người phát ngôn của TFL (Transport for London – tạm dịch Giao thông London) đã phải lên tiếng xin lỗi và thừa nhận họ đã sai trong việc dỡ bỏ quảng cáo này.</p>
<p>Joan Smith, một học giả quen thuộc của BBC và tờ báo tiếng tăm The Independent, cho rằng xảy ra những việc như vậy bởi lẽ chúng ta đã quá quen thuộc với những hình ảnh được ‘porn hóa’ (hở hang, gợi dục) trên các phương tiện truyền thông nên khi nhìn thấy những vẻ đẹp thuần khiết như bức Venus của Lunas Cranach thì lại cảm thấy không thoải mái, có cái gì đó không quen, không thực với cuộc đời xô bồ bây giờ.</p>
<p>Chính thế nên tôi lo ngại, rằng kể cả khi có một điều không tưởng là tác phẩm điêu khắc nổi tiếng David hoặc tuyệt phẩm ‘The Creation of Adam’ của Michelangelo có ý định đến với công chúng Việt Nam thì chắc hẳn cũng khó lòng qua được cửa ‘kiểm duyệt’, đơn giản thôi, ‘trái với thuần phong mỹ tục’.</p>
<p>Đừng nói gì đến những tác phẩm của các nghệ sĩ đương đại khác.</p>
<p>Và nếu như tôi là một trong số các nhà kiểm duyệt cần mẫn kia, tôi sẽ tự mình cầm vải hoặc bạt đi che hết các linga, yoni tại các bảo tàng văn hóa trên cả nước, cũng như là những hình ảnh nam nữ giao cấu được tạc trên các nhà mồ Tây Nguyên hoặc trên trống đồng Đông Sơn triển lãm tại Bảo tàng dân tộc học.</p>
<p>Nhưng nếu đổ hết cho khâu ‘kiểm duyệt’ thì cũng thật là quá đáng, bởi lẽ một sự thật không thể phủ nhận, người dân Việt Nam vẫn chưa quen tiếp cận với loại hình văn hóa này.</p>
<p>Ai cũng biết là ‘cần phải tuyên truyền, nâng cao nhận thức để một tác phẩm hội họa khỏa thân đẹp, chính đáng, có ý nghĩa và chất lượng nghệ thuật đừng bị gọi, và bị đối xử như là ‘cái tranh cởi truồng đứng giữa ngã tư’, nhưng làm như thế nào thì lại chẳng ai biết.</p>
<p>Thế nên, sau rốt, ‘nghệ thuật cởi truồng’ ở Việt Nam vẫn đứng giữa ngã tư.</p>
<p><em>Bài viết thể hiện quan điểm của tác giả, sinh viên du học tại Anh.</em></p>
<p><em><a href="http://newsforums.bbc.co.uk/ws/vi/thread.jspa?forumID=9888">Bấm Bấm vào đây để xem ý kiến độc giả</a><br />
</em></p>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/2012/01/26/%e2%80%98c%e1%bb%9fi-tru%e1%bb%93ng-d%e1%bb%a9ng-gi%e1%bb%afa-nga-t%c6%b0%e2%80%99/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>Văn học Phật giáo song ngữ</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/2012/01/26/van-h%e1%bb%8dc-ph%e1%ba%adt-giao-song-ng%e1%bb%af/</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/2012/01/26/van-h%e1%bb%8dc-ph%e1%ba%adt-giao-song-ng%e1%bb%af/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 26 Jan 2012 09:48:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Phê bình]]></category>
		<category><![CDATA[Việt Nam]]></category>
		<category><![CDATA[HUỆ DÂN]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=17037</guid>
		<description><![CDATA[TS. HUỆ DÂN Một trong những nét đơn giản của Văn học Phật giáo là bản chất của thuật ngữ, luôn luôn mang tính nhắc nhở, hướng dẫn tinh thần cho mỗi cá nhân, tự chiêm nghiệm, tự kiểm chứng, bằng những trình độ tu tập khác nhau, mà tìm ra phương cách dung hòa, [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>TS. HUỆ DÂN</strong></p>
<p style="text-align: justify;"><a rel="attachment wp-att-17038" href="http://nguyentrongtao.org/2012/01/26/van-h%e1%bb%8dc-ph%e1%ba%adt-giao-song-ng%e1%bb%af/phat/"><img class="alignleft size-medium wp-image-17038" title="PHAT" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2012/01/PHAT-261x300.jpg" alt="" width="261" height="300" /></a><strong><span style="color: #000080;">Một trong những nét đơn giản của Văn học Phật giáo là bản chất của thuật ngữ, luôn luôn mang tính nhắc nhở, hướng dẫn tinh thần cho mỗi cá nhân, tự chiêm nghiệm, tự kiểm chứng, bằng những trình độ tu tập khác nhau, mà tìm ra phương cách dung hòa, hầu giúp cho mình và cho người có một cuộc sống tốt đẹp, trong gia đình và xã hội.</span></strong></p>
<p>Điều này có thể được diễn đạt một cách rõ ràng bằng Tám chữ Chánh trong con đường ở giữa mà Đức Phật đã tìm ra để làm bánh xe chuyển Pháp của Ngài. Những lời nói của Đức Phật đã được ghi chép lại, theo các dòng tư tưởng khác nhau và phân chia ra thành nhiều thể loại sáng tạo của văn bản như: &#8220;Văn xuôi hay thơ&#8230;&#8221;. Mục đích là để chỉ dẫn cho người đọc, người nghe, sự lợi ích của việc quy y, hành trì Phật pháp.</p>
<p>Văn học Phật giáo là nền văn học đặc trưng trong sinh hoạt nhân gian, bởi vì, đời sống của Đức Phật và các tăng, ni, vốn sống giữa nhân gian, không mang tính chất của sinh hoạt thành thị hay một thế giới nào khác. Tùy cơ duyên, mà Ngài và các đệ tử đưa ra những bài thuyết pháp thích nghi, không ngoài ước vọng giải thoát để làm lợi ích toàn diện cho mọi người.</p>
<p>Dòng văn chương bình dân này, thuộc tính đa, khái quát, hình tượng, liên tưởng… và thường không chỉ một nhân vật nào cụ thể, mà chỉ một hiện tượng nổi bật, trong hoàn cảnh nào đó bằng sự thẩm định chính xác và rất rõ ràng, thí dụ như :</p>
<p>Tứ Diệu Đế là sự đúc kết lại của một cái nhìn tổng quát về sự khổ thường trực của con người và cách giải thoát cái khổ này trong tiến trình thay đổi không dừng của bốn giai đoạn: Sanh, già, bịnh, chết, của muôn loài.</p>
<p>Trong giai đoạn phát triển nguyên thủy của Phật học, lời Đức Phật dạy chủ yếu là sự truyền miệng trong phạm vi đạo đức học, mang tính cách nội tại, để nhắc nhở con người sống đời hướng thiện, bằng bốn chữ: TỪ, BI, HỶ, XẢ.</p>
<p>Văn học Phật giáo không phải là một vật phẩm bất biến, mà là một quá trình tương tác giữa những lời dạy của Đức Phật và người đang đi tìm đạo hay đang tu đạo của Ngài, thông qua ngôn ngữ trong sự kiến tạo xã hội của con người, luôn luôn biến chuyển theo luật nhân quả, sinh ra và diệt đi, không ngừng. <em></em></p>
<p>Đây cũng chính là lý do mà Văn học Phật giáo có thể, luôn luôn, được hiểu theo nhiều cách, dựa trên phương diện thời gian, không gian, bao gồm: quá khứ | hiện tại | tương lai, trong những hoàn cảnh khác nhau.</p>
<p>Hình ảnh là nguồn cảm hứng vô tận của văn học Phật giáo nguyên thủy. Đức Phật là hình ảnh của một con người, khơi nguồn từ lẽ vô thường, từ tính chất mong manh của cuộc sống. Một con người được mô tả trong sự sống bình dị, không ngoài mục đích duy nhất của đời sống, là cởi bỏ mọi ràng buộc cho muôn loài.</p>
<p>Văn học Phật giáo là cái trọng tâm toàn diện bao la được thấy:  Một là Tất cả và Tất cả là Một, mà Pháp giới duyên khởi có nói rất rõ từng chi tiết.</p>
<p>Văn học Phật giáo cũng có thể lý luận tương tự đối với tính liên kết của các Kinh văn. Mỗi Kinh văn đều có sự dẫn chiếu về nội dung hay ý nghĩa liên quan đến những Kinh văn khác, nhưng điều này không bắt buộc phải nói là bất kỳ Kinh văn nào cũng đều có dẫn chiếu này.</p>
<p>Văn học Phật giáo thường mang tính đối thoại và tình huống qua những đề tài, giản dị, súc tích, sinh động thú vị hay đẹp, giữa Đức Phật và người học Phật, dựa trên nền tảng giáo dục, dùng trí tuệ để nhận xét sự việc làm chuẩn.</p>
<p>Phật học không thuộc về riêng ai hết. Văn học Phật giáo là sự sáng tác của từng cá nhân góp lại, xuất phát từ nguồn cảm xúc của các hiện tượng đời sống, được miêu tả, phản ảnh trực tiếp, bằng nhận thức, lý giải và thái độ sống động qua những lời Đức Phật đã dạy.</p>
<p>Hãy nên can đảm tự sử dụng trí tuệ của chính mình để xây dựng nền Văn học Phật giáo Việt Nam, như các vị thầy tổ và các triều đại nhà Vua đã làm trong tinh thần, hòa đồng, tự chủ, tự lực, tự cường và sự thanh cao giải thoát của đạo Phật, cho những ai muốn theo con đường chân thiện mỹ mà Đức Phật chỉ dạy trong đời sống thực tại này.</p>
<p> ***</p>
<p>Une définition simple, parmi les  autres, de  la littérature bouddhique, vient de la nature du terme, qui se caractérise, en chacun, par  une  contemplation de soi, dans le but d’atteindre une harmonie, et de s’entr’aider les uns les autres vers une vie paisible en  famille et  dans la société.</p>
<p><em>Celà peut être exprimé explicitement par les huit membres (1. Vision parfaite; 2. Représentation parfaite; 3. Parole parfaite; 4. Activité parfaite; 5. Moyen de subsistance parfait; 6. Application parfaite; 7. Présence d’esprit parfaite; 8. Position du psychisme parfaite.) du Sentier Octuple que le Bouddha a exposé dans son premier sermon Bénarès, considéré comme la « mise en mouvement de la roue de la loi ». Les enseignements du Bouddha  contiennent différentes formes de pensée et appartiennent à plusieurs genres littéraires : prose ou poésie. L&#8217;objectif est de guider les lecteurs, et les auditeurs, à découvrir les avantages de la verité et de la pureté dans la pratique du bouddhisme.</em></p>
<p><em>La littérature bouddhique appartient au genre populaire, la vie de Bouddha et celle de ses disciples étant issues du peuple et non de la ville ou couches sociales plus élévées. Selon les circonstances, Bouddha et ses disciples donnent des enseignements adaptés aux gens, dans le but de leur faire prendre conscience de l’origine de la souffrance, et de leur capacité à combattre l’ignorance, quelle que soit la situation dans laquelle ils se trouvent. Sortis de l’ignorance, ils pourront enfin sortir du cycle des renaissances, le Samsâra, et donc échapper à la souffrance inhérente à la vie humaine.</em></p>
<p><em>Cette littérature populaire  a de multisens:  sens général, sens figuré, sens symbolique et souvent non  associée à  une personnalité&#8230; mais elle designe spécifiquement un phénomène important, dans certaines circonstances, par une évaluation précise et très claire, par exemple:</em></p>
<p><em>Quatre Nobles Vérités  est un concentré d&#8217;une vue d&#8217;ensemble sur l’état de la souffrance permanente d’un être et la libération de cette souffrance dans le processus des  quatre étapes de la vie de l’être humain : la naissance, la vieillesse, la maladie, la mort.</em></p>
<p><em>Dans le stade primitif du développement de l’origine du Bouddhisme, les paroles du Bouddha ont été principalement transmises par de bouche à oreile dans le but pour les adeptes des communautés de pouvoir vivre et pratiquer les «les quatre conduites ou sentiments pieux aussi appelés « les quatre incommensurables » » car ils pourraient être développés indéfiniment et conduisent à « l&#8217;éveil parfait ». Il s&#8217;agit d&#8217;émotions positives qui pourraient être développées par des pratiques appropriées: </em></p>
<p><em>1-     </em><em>La bienveillance universelle (mettā): Souhait que tous les êtres trouvent le bonheur et de ses causes.</p>
<p>2- La compassion (karunā) : Souhait que les êtres soient libérés de la souffrance et de ses causes.</p>
<p>3- La joie sympathique (muditā) : Souhait que les êtres trouvent la joie exempte de souffrance.</p>
<p>4- L&#8217;équanimité (uppekkā): Souhait que les êtres demeurent dans la grande équanimité sans partialité, sans attachement et ni aversion.</em></p>
<p><em>La littérature bouddhique n&#8217;est pas quelque chose d’immuable, mais un processus interactif entre les enseignements du Bouddha et ceux  qui cherchent  ou pratiquent sa Voie, à travers le langage de la création de l&#8217;homme, qui est constamment changé en fonction de la loi du karma, et du cycle de l’appararition et la disparition, sans fin.</em><br />
<em>C&#8217;est  pour cette  raison que  la littérature bouddhique peut, toujours, être interprétée de plusieurs façons, basée sur les aspects de temps et d&#8217;espace, y compris dans : le passé, le présent, le futur, les différentes circonstances.</em></p>
<p><em>Dans la littérature bouddhique d’origine, les images sont des sources d’inspiration sans fin, depuis toujours. Bouddha est l&#8217;image d&#8217;un homme, qui commence par l&#8217;impermanence et la nature délicate de la vie d’un etre. Bouddha est décrit  comme un homme simple et menant une vie ordinaire, mais avec le but de se libérer de la souffrance engendrée par les attachements erronés à la réalité apparente du monde extérieur et  de progresser dans la voie de l’Eveil pour tous les êtres.</em></p>
<p><em>La littérature bouddhique est considèrée comme une vue immense et complète dans un sens général : Un est Tout et Tout est Un, dont La coproduction conditionnée a expliqué clairement tous les détails.</em></p>
<p><em>La littérature bouddhique est également similaire à la cohérence théorique du Sutra. Chaque Sutra a des références pour le contenu ou la signification liée à d&#8217;autres textes, mais ce n&#8217;est pas nécessaire de dire que tout les Sutra ont toujours de cette manière.</em></p>
<p><em>La littérature bouddhique se caractèrise souvent par un dialogue  et une situation marginale, à travers les thèmes, simples, concis, vifs intéressants, entre le Bouddha et les pratiquants bouddhiistes, qui sont basés sur l&#8217;éducation en utilisant la sagesse pour la compréhension des choses telles qu’elles sont, et non les  croire aveuglément.</em><br />
<em>Le bouddhisme n’ appartient pas à une fin particulière. La littérature bouddhique est composée de contributions individuelles. L&#8217;émotion vient de la source des phénomènes de la vie ; elle décrit, les reflets directs,  la perception, l&#8217;interprétation et l&#8217;attitude dans la vie enseignée par le Bouddha.</em></p>
<p><em>Soyez courageux ; chacun et chacune contribue par  ses propres connaissance à construire la littérature bouddhique du Vietnam, telle que les maitres et les rois qui ont œuvré  dans un esprit d’harmonie et d&#8217;autonomie pour  une  libération de toutes les souffrances de ceux qui veulent suivre le chemin du Bouddha.</em></p>
<p> HD</p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/2012/01/26/van-h%e1%bb%8dc-ph%e1%ba%adt-giao-song-ng%e1%bb%af/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>NHÂN CHUYỆN ÔNG NGUYỄN VĂN MẠC &#8211; MỘT DOANH NHÂN VIỆT KIỀU TẠI CHLB ĐỨC ĐẠO VĂN CỦA TRẦN MẠNH HẢO</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/2012/01/26/nhan-chuy%e1%bb%87n-ong-nguy%e1%bb%85n-van-m%e1%ba%a1c-m%e1%bb%99t-doanh-nhan-vi%e1%bb%87t-ki%e1%bb%81u-t%e1%ba%a1i-chlb-d%e1%bb%a9c-d%e1%ba%a1o-van-c%e1%bb%a7a-tr%e1%ba%a7n-m%e1%ba%a1nh-h%e1%ba%a3o/</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/2012/01/26/nhan-chuy%e1%bb%87n-ong-nguy%e1%bb%85n-van-m%e1%ba%a1c-m%e1%bb%99t-doanh-nhan-vi%e1%bb%87t-ki%e1%bb%81u-t%e1%ba%a1i-chlb-d%e1%bb%a9c-d%e1%ba%a1o-van-c%e1%bb%a7a-tr%e1%ba%a7n-m%e1%ba%a1nh-h%e1%ba%a3o/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 26 Jan 2012 08:46:01 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Chuyện Làng Văn]]></category>
		<category><![CDATA[Làng văn]]></category>
		<category><![CDATA[Trần Mạnh Hảo]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=17030</guid>
		<description><![CDATA[TRẦN MẠNH HẢO Trên website Đàn Chim Việt ( http://danchimviet.info), nhà văn Đỗ Trường (CHLB ĐỨC) và trên website : http://vietinfo.eu  đã công bố bài :”Chuyện đạo văn sáng mùng một tết “, “Lại một kiểu ăn cắp trắng trợn”, tố cáo ông Nguyễn Văn Mạc &#8211; giám đốc công ty ASIA MARKT thuộc thành [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<p><strong>TRẦN MẠNH HẢO</strong></p>
<div id="attachment_17031" class="wp-caption alignright" style="width: 160px"><a rel="attachment wp-att-17031" href="http://nguyentrongtao.org/2012/01/26/nhan-chuy%e1%bb%87n-ong-nguy%e1%bb%85n-van-m%e1%ba%a1c-m%e1%bb%99t-doanh-nhan-vi%e1%bb%87t-ki%e1%bb%81u-t%e1%ba%a1i-chlb-d%e1%bb%a9c-d%e1%ba%a1o-van-c%e1%bb%a7a-tr%e1%ba%a7n-m%e1%ba%a1nh-h%e1%ba%a3o/tmh-2/"><img class="size-thumbnail wp-image-17031" title="TMH" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2012/01/TMH1-150x150.jpg" alt="" width="150" height="150" /></a><p class="wp-caption-text">Trần Mạnh Hảo</p></div>
<p>Trên website Đàn Chim Việt ( <a href="http://danchimviet.info/">http://danchimviet.info</a>), nhà văn Đỗ Trường (CHLB ĐỨC) và trên website : <a href="http://vietinfo.eu/">http://vietinfo.eu</a>  đã công bố bài :”Chuyện đạo văn sáng mùng một tết “, “Lại một kiểu ăn cắp trắng trợn”, tố cáo ông Nguyễn Văn Mạc &#8211; giám đốc công ty ASIA MARKT thuộc thành phố Magdebug ( CHLB ĐỨC), kiêm Tổng thư ký “Hội đồng hương Kinh Bắc tại CHLB Đức” đã đạo gần như nguyên vẹn tùy bút “<a href="http://nguyentrongtao.org/2012/01/20/dem-giao-th%e1%bb%aba-nh%e1%bb%9b-m%e1%ba%b9/" target="_blank">Đêm giao thừa nhớ mẹ</a>” của chúng tôi ( TMH) làm văn của mình đưới đầu đề mới : “Đêm giao thừa và mẹ” . Ông Nguyễn Văn Mạc đã cho phổ biến bài đạo văn này trên các website : <a href="http://thoibao.de/">http://thoibao.de</a>, <a href="http://tuanbao.de/">http://tuanbao.de</a>, <a href="http://tapchihuongviet.eu/">http://tapchihuongviet.eu</a> … <img title="More..." src="http://nhathonguyentrongtao.wordpress.com/wp-includes/js/tinymce/plugins/wordpress/img/trans.gif" alt="" /><span id="more-17030"></span></p>
<p>Tùy bút “ Đêm giao thừa nhớ mẹ” của chúng tôi đã được in trên nhiều báo giấy trong nước từ dịp tết các năm trước. Năm nay chúng tôi đã gửi in bài này trên các báo mạng, không thể nói là chúng tôi đạo văn của ông Nguyễn Văn Mạc được và cần phải hiểu ngược lại. Xin quý vị đọc bài đạo văn của ông Nguyễn Văn Mạc :</p>
<h2><strong>Đêm giao thừa và mẹ &#8211; Nguyễn Văn Mạc</strong></h2>
<p>Cập nhật lúc 25-01-2012 01:13:40 (GMT+1)</p>
<p><strong>Đêm giao thừa thương Mẹ ! để ngày tết còn niềm nương tựa và an ủi lớn nhất trong đời.</strong></p>
<p>Mẹ ngồi đó, tóc bạc như hoa mơ hoa mận, bên nồi bánh chưng quây quần con cháu. Trong mắt mẹ, tôi dù bao nhiêu tuổi vẫn cứ là trẻ thơ, vẫn còn nằm trong tã lót của tình mẹ thuở lọt lòng. Và đêm giao thừa, trước ngọn lửa, mẹ đồng nghĩa với tuổi thơ tôi. Ôi ! những ngày thơ bé, những tết nghèo thơm nức ổ rơm, chiều ba mươi tết tôi được ngồi bên mẹ, cùng mấy đứa em xem mẹ làm bếp, ngồi chờ ăn tóp mỡ. Ngoài trời, mưa bụi bay như sương, thi thoảng gió xuân mang hơi lạnh mùa đông còn sót lại sột soạt ngoài đầu hè, tiếng lá chuối khô cọ vào nhau nghe như tiếng đồng tiếng sắt. Tôi mê những ngày tết có rét, có mưa bụi bay, có hoa cải vàng ngoài vườn và bướm trắng dẫn đường con trẻ con chạy.</p>
<p>Có khi sáng ba mươi tết mẹ còn ra đồng cấy nốt đám ruộng xa để cho cây lúa cũng được ăn tết như người. Ngày ấy bố tôi là bộ đội ngoài mặt trận xa nhà. Tôi dẫn những đứa em, cuốn áo bông vào rụt rịt như những khúc giò vừa bó, thập thò như cua cáy ngoài ngõ chờ mẹ về chuẩn bị tết nhất. Tôi chạy ra bờ sông Đồng khởi đầu làng, sông trốn vào sương mà lưng lửng nước. Tôi chạy ra đồng, gió bấc tưởng tôi là lá khô, cứ thổi như thằng bé chín tuổi không còn trọng lượng. Tôi sợ, chạy về nhà, úp mặt vào ổ rơm mà gọi mẹ. Tiếng lợn bị chọc tiết hú như còi đâu đó trong làng làm mấy anh em càng sốt ruột. Mẹ vẫn còn khuất sau màn mưa phùn gió rét ngoài đồng, cấy vội đám lúa kịp mùa xuân. Thế rồi trưa ba mươi tết mẹ từ ngoài đồng về, vừa đi vừa chạy như gió bấc, môi tím ngắt, rét run cầm cập, chưa kịp rửa đôi chân lấm bùn đã chạy vội sang hàng xóm chia phần thịt lợn. Tôi chạy ra vườn lôi thanh củi ướt vào cho mẹ nhóm bếp. Bếp lửa là tâm điểm của ngày tết. Khói cuốn lấy mấy mẹ con như dây buộc. Lửa ấm làm mặt mẹ hồng hào rạng rỡ. Bếp lửa và niềm vui con cái trả lại tuổi trẻ cho mẹ.</p>
<p>Ngoài vườn, trước bờ ao, hoa đào đang tự sưởi ấm mình bằng những chấm hoa vừa hé đỏ như than hồng. Bướm ong rét quá tìm đến đốm lửa hoa mà sưởi. Tôi ngồi bên mẹ canh nồi bánh chưng mà vơ vẩn thương gió bấc không có mẹ nên phải tha phương cầu thực đầu đường xó chợ. Tự nhiên ngủ gật, tôi mơ thấy mẹ bị gió bấc cuốn mất, hoảng hốt tỉnh dậy, dùng hai tay trẻ con ôm chặt lấy mẹ như hai sợi lạt buộc ghì bó lúa. Mẹ vẫn ngồi đó, lửa ấm làm má người đỏ hồng thì con gái, tóc buông phủ bờ vai như một miếng bóng đêm vừa đặc lại đen nhánh. Tôi rúc đầu vào nách mẹ như chú gà con, làm mẹ bị nhột bật cười. Các em tôi lăn ra ổ rơm bên cạnh ngủ như lợn con. Thỉnh thoảng, gió rét đập cửa như có ý xin vào sưởi ấm.</p>
<p>Mẹ tôi mười bảy tuổi đã phải về làm dâu với muôn vàn cơ cực nhiều tục lệ phong kiến nho giáo của miền quê Lương Tài, Bắc Ninh. Mẹ bị mọi người  sai khiến còn hơn con ở. Mỗi lần cực quá, mẹ chạy ra vườn, núp vào khóm chuối khóc thút thít, tự lấy nước mắt mình an ủi mình. Mẹ bảo vì khi có mang tôi, mẹ hay khóc, sợ con sau buồn nên lúc tủi thân, lúc đau khổ cứ phải tự mình đóng kịch, đóng vai người suốt ngày chỉ biết tươi như hoa, giả lả cười, giả lả nói, giả lả vui. mẹ cứ tưởng đời mình chưa hề buồn khổ, chưa hề bị hành hạ. Đến nỗi khi bụng mẹ chửa kềnh càng, còn bị mẹ chồng nọc ra sân dùng roi đánh, đau quắn mông nhưng vẫn phải lễ phép xin lỗi và cám ơn mẹ chồng vì mình được ăn roi. Rằng con xin ăn thêm năm đến mười roi nữa mới xứng tội ạ…Đời con gái mẹ qua đi với những trận đòn, với những lần chửa đẻ chẳng hề biết thế nào là hạnh phúc.</p>
<p>Có những đêm khuya cả nhà ngủ cả, đoạn mẹ ôm lấy mấy đứa con còn bé dại hỏi : chúng mày có nhớ Bố thương mẹ không ? Lũ lợn con chúng tôi cùng hét to: chúng con nhớ Bố thương Mẹ lắm ạ… mẹ sung sướng hôn chúng tôi rồi cười ứa nước mắt. Cả lũ tí teo thấy mẹ khóc, sợ quá cùng khóc theo.</p>
<p>Tôi thấy mẹ khác nào mưa gió, suốt ngày cong như con tôm trên đồng cầy cấy, mò cá, vạt tép, bắt cua, mót lúa…Tối về lại xay thóc, giã gạo, có khi không dầu đèn, mẹ vừa đốt thanh củi nhặt thóc trong rá gạo vừa ru đứa em năm tháng tuổi ngủ. Tiếng mẹ ru buồn cả đêm mưa, buồn lây cả tiếng tàu chuối khuya ngoài vườn. Những đêm quê hương xưa nỗi buồn không ngủ. Nỗi buồn đi ngoài đường như mộng du. Nỗi buồn len lén như sương ngoài ngõ. Nỗi buồn trong trời đất sâu xa như lặn vào hết tâm hồn tôi qua lời ru của mẹ, qua tiếng thở dài của đêm tối ngoài vườn chuối mẹ thường ra núp thở than.</p>
<p>Tôi lớn lên, đi học. Một gánh mồng tơi bầm tím vai mẹ ra chợ chưa đổi được thếp giấy. Tôi đòi cây bút máy. Mẹ phải đi mò cá hàng chục đêm tôi mới có cây bút máy Hồng Hà. Rồi tôi đi lính. Nửa đêm về sáng tiễn tôi ra bến xe lên đường đi ra trận, mẹ cố không khóc. Nhưng ra đầu ngõ, mẹ không bước được nữa. Mẹ ngã gục vào gốc cây bàng, ngoài kia tiếng súng nổ chát chúa đâu đó gần lắm.Tôi ngoái đầu nhìn thấy mẹ ôm chặt gốc bàng như thể muốn tôi thành một gốc cây đầu ngõ vậy. Tôi gạt nước mắt ra đi mà lòng luôn ở bên Mẹ. Tôi không dám đôn mẹ mình lên thành quê hương, thành đất nước. Mẹ chỉ là mẹ tôi thôi, như khoai lúa người cho tôi ăn, như nguồn sữa vật chất và tinh thần người nuôi tôi mãi mãi &#8230;</p>
<p>Mẹ từng dạy con phải nén và giấu nỗi buồn riêng vào tâm hồn, để khoe niềm vui ra cho mọi người cùng hưởng như hoa đào ngày tết. Thế mà con lại giãi bày nỗi buồn xa quê nhớ mẹ núc phút đón giao thừa. Âu cũng là một cách giúp cho những ai còn có Mẹ trên đời biết rằng, Mẹ chính là mùa xuân, là ngày tết của tâm hồn chúng ta vậy.</p>
<p>Mẹ ơi !  Mẹ hiền ViệtNamơi ! mùa xuân nào con được trở về bên Mẹ &#8230;</p>
<p><strong>Nguyễn Văn Mạc </strong>Magdeburg , CHLB Đức</p>
<p>Mobil :+ 49/ 01623346421</p>
<p><a href="http://www.vietinfo.eu/cd-tai-duc/dem-giao-thua-va-me--nguyen-van-mac.html">http://www.vietinfo.eu/cd-tai-duc/dem-giao-thua-va-me&#8211;nguyen-van-mac.html</a></p>
<p>Qúy vị hãy vào <a href="http://google.com/">http://google.com</a> tìm bài viết của chúng tôi với tiêu đề “Đêm giao thừa nhớ mẹ, tùy bút của Trần Mạnh Hảo” để tiện bề so sánh với bài đạo văn của ông Nguyễn Văn Mạc. Ngày 13-02-2010, tức trong dịp tết năm Mão (năm ngoái) tùy bút “Đêm giao thừa nhớ mẹ” của chúng tôi đã được in trên mạng Quê Choa của nhà văn Nguyễn Quang Lập và nguyentrongtao.org :</p>
<p><a href="http://quechoa.info/2010/02/13/dem-giao-th%E1%BB%ABa-nh%E1%BB%9B-m%E1%BA%B9/">http://quechoa.info/2010/02/13/dem-giao-th%E1%BB%ABa-nh%E1%BB%9B-m%E1%BA%B9/</a></p>
<p><a href="http://nguyentrongtao.org/2012/01/20/dem-giao-th%e1%bb%aba-nh%e1%bb%9b-m%e1%ba%b9/">http://nguyentrongtao.org/2012/01/20/dem-giao-th%e1%bb%aba-nh%e1%bb%9b-m%e1%ba%b9/</a></p>
<p>Chuyện đạo văn ( ăn cắp văn thơ của người khác làm văn thơ của mình) hiện nay đã thành quốc nạn, không còn là vấn đề cá biệt. Chúng tôi ( TMH) trong suốt 30 năm qua, đã viết hàng chục bài chỉ ra sự đạo văn của các giáo sư, các vị tiến sĩ. Có những vị GS.TS. thó luôn công trình của người khác , hoặc thó từng mảnh của những người khác để làm luận án tiến sĩ hoặc để biến thành sách của mình. Có khá nhiều vị giáo sư đầu ngành văn học dịch bài của tác giả ngoại quốc rồi ký tên mình là tác giả. Ngay cả khi viết sách giáo khoa văn trung học, có vị giáo sư đầu ngành nọ cũng thó văn của người khác làm văn của mình.</p>
<p>Một xã hội mà sự ăn cắp ( tham nhũng) trở thành đại quốc nạn, lấy cắp, làm thất thoát công qũy hàng nghìn tỷ đồng vẫn không bị ra tòa, vẫn cứ lên chức vù</p>
<p>vù…thì xã hội ấy, quồc gia ấy, thể chế ấy là một xã hội suy đồi, một đất nước suy vong, một dân tộc thất đức, một thể chế đang trên đường tự sát.</p>
<p>Đến nỗi, ông phó thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân phải thốt lên trên báo rằng nền giáo dục mà ông phụ trách là một nền giáo dục thiếu trung thực. Vâng, một nền giáo dục dối trá, thầy dối trá thầy, trò dối trá trò, người người nói dối, nhà nhà nói dối, ngành ngành nói dối, thi đua nói dối, nói dối có thưởng, nói dối được lên lương lên chức thì quốc gia này sẽ là một quốc gia yếu kém, hèn hạ, dễ làm mồi cho ngoại bang nuốt sống.</p>
<p>Cổ nhân dạy :  thượng bất chính hạ tắc loạn. Trên chóp bu ngôi nhà mà dột nát thì phải phá đi làm lại, càng sửa càng dột , càng sửa càng mau sụp đổ mà thôi. Than ôi, trên đã lấy nói dối làm nền tảng thì dưới ai dám cả gan nói thật là phạm pháp, là bị tù đầy, đàn áp. </p>
<p>Mới thấy câu : “Dễ trăm lần không dân cũng chịu/ Khó vạn lần dân liệu cũng xong” của nhà thơ Thanh Tịnh; nay đã thấy câu nói này được các “ phương diện quốc gia” bảo là của cụ thượng, đành rụt lưỡi lại mà không dám thò ra đính chính. Mới thấy các câu cách ngôn của Nho giáo trong “Đại học”, “Trung dung”, “Mạnh tử”…chợt thấy các “ phương diện quốc gia” bảo những lời thánh hiền dạy trên là của cụ thượng, đành ngậm tăm mà xu thời kiếm lợi,hơn là đính chính, sẽ phải ra tòa vì dám gọi sự vật bằng tên của nó.</p>
<p>Chưa bao giờ, nạn ăn cắp của công, quốc nạn tham nhũng, quốc nạn đạo văn lại trở thành nhãn mác Việt Nam của cả hệ thống xã hội đang tha hóa tới tột cùng. Người ta hầu như không còn khả năng xấu hổ khi ăn cắp, kể cả ăn cắp thơ văn như ông doanh nhân Việt kiều yêu nước Nguyễn Văn Mạc đang sinh sống tại CHLB Đức. Mới đây thôi, chuyện một ông chủ tịch hội nhà văn từng đạo văn, ăn cắp thơ của một nữ thi sĩ Đức làm thơ của mình đã om sòm trên mạng; nhưng ông quan chức nhà thơ kia tuyệt nhiên không hề xin lỗi, cứ ngậm miệng ăn tiền với bài thơ đạo văn của mình được dạy trong sách giáo khoa. Mới đây thôi, một phóng viên, phát thanh viên đài truyền hình quốc gia thăm một nước Bắc Âu, cả gan vào siêu thị ăn cắp bị bắt…Nhờ cô ta là con một quan chức cao cấp nên sứ quán Việt Nam phải chạy chọt nước sở tại cho êm chuyện. Nay cô nhà báo mắc tội ăn cắp bị báo mạng biêu riếu bỗng trở thành người trưởng ban văn hóa, chuyên rao giảng văn hóa trên đài truyền hình, thì khái niệm văn hóa, khái niệm lương thiện xấu hổ quá mà trốn mất thôi ! Làm gì có văn hóa trong cái quốc nạn ăn cắp ?</p>
<p>Có lẽ hình ảnh này đã nói lên bản chất của một xã hội dối trá hiện thời, phi đạo đức tới tận cùng : một người chở bọc tiền đi trên đường phố Hà Nội bị kẻ cướp tấn công, tiền rơi ra đầy phố, lại bị nạn cướp nhân dân lao tới cướp tiền rơi vãi : hàng chục người đang lưu thông dừng xe, chen nhau cướp giật tiền của nạn nhân vừa bị cướp cạn. Có phải vì dân ta càng học tập đạo đức… càng mất đạo đức chăng ?</p>
<p><em>Sài Gòn sáng mùng bốn tết Nhâm Thìn 25-02-2012</em></p>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/2012/01/26/nhan-chuy%e1%bb%87n-ong-nguy%e1%bb%85n-van-m%e1%ba%a1c-m%e1%bb%99t-doanh-nhan-vi%e1%bb%87t-ki%e1%bb%81u-t%e1%ba%a1i-chlb-d%e1%bb%a9c-d%e1%ba%a1o-van-c%e1%bb%a7a-tr%e1%ba%a7n-m%e1%ba%a1nh-h%e1%ba%a3o/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
		<item>
		<title>CÓ KẺ RAO ĐẤU GIÁ TÊN MIỀN nguyentrongtao.com</title>
		<link>http://nguyentrongtao.org/2012/01/26/co-k%e1%ba%bb-rao-d%e1%ba%a5u-gia-ten-mi%e1%bb%81n-nguyentrongtao-com/</link>
		<comments>http://nguyentrongtao.org/2012/01/26/co-k%e1%ba%bb-rao-d%e1%ba%a5u-gia-ten-mi%e1%bb%81n-nguyentrongtao-com/#comments</comments>
		<pubDate>Thu, 26 Jan 2012 06:34:35 +0000</pubDate>
		<dc:creator>nguyentrongtao</dc:creator>
				<category><![CDATA[Báo chí]]></category>
		<category><![CDATA[Nguyễn Trọng Tạo]]></category>
		<category><![CDATA[Tin văn]]></category>
		<category><![CDATA[NGUYỄN TRỌNG TẠO]]></category>

		<guid isPermaLink="false">http://nguyentrongtao.org/?p=17023</guid>
		<description><![CDATA[NTT: Hôm nay tôi nhận được mail của Alexander rao đấu giá tên miền nguyentrongtao.com. Đây là tên miền bị một kẻ đầu cơ ở Hoa Kỳ mua trước từ năm 2005 nhưng không sử dụng. Khi tôi định mua tên miền nay để mở trang Website nguyentrongtao thì đành phải chuyển sang nguyentrongtao.org. Vậy xin thông [...]]]></description>
			<content:encoded><![CDATA[<div id="gt-tgt-lang-sugg">
<div>
<div>
<div style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #000080;">NTT: Hôm nay tôi nhận được mail của Alexander rao đấu giá tên miền nguyentrongtao.com. Đây là tên miền bị một kẻ đầu cơ ở Hoa Kỳ mua trước từ năm 2005 nhưng không sử dụng. Khi tôi định mua tên miền nay để mở trang Website nguyentrongtao thì đành phải chuyển sang nguyentrongtao.org. Vậy xin thông báo để bạn đọc biết: nếu có ai đó sử dụng trang Web có tên miền nguyentrongtao.com thì đó không phải là trang Website của tôi &#8211; Nguyễn Trọng Tạo.<br />
</span></strong><strong><span style="color: #000080;"><br />
Dưới đây là nội dung của kẻ rao đấu giá tên miền nguyentrongtao.com:</span></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #000080;"> </span></strong></div>
<div style="text-align: justify;"><strong><span style="color: #000080;"><a rel="attachment wp-att-17024" href="http://nguyentrongtao.org/2012/01/26/co-k%e1%ba%bb-rao-d%e1%ba%a5u-gia-ten-mi%e1%bb%81n-nguyentrongtao-com/mail/"><img class="aligncenter size-full wp-image-17024" title="mail" src="http://nguyentrongtao.org/wp-content/uploads/2012/01/mail.jpg" alt="" width="598" height="359" /></a></span></strong></div>
<div><strong><em>&#8220;Thông báo tình trạng tên miền ưa thích:<br />
</em></strong><br />
nguyentrongtao.com sẽ được liệt kê để bán đấu giá trong một vài ngày. Tên miền này có thể có ích cho bạn, vì bạn đang sở hữu một tên miền gần tương tự như tên miền này.</div>
<p>Để xác nhận quan tâm đến việc sở hữu tên miền này, điền vào mẫu đơn giản ở đây: nguyentrongtao.com </p>
<p>Trân trọng, Alexander<br />
3355 N. Học viện Blvd, đơn vị # 253.<br />
Colorado Springs, CO 80917&#8243;.</p>
</div>
<div>VẬY NTT XIN THÔNG BÁO ĐỂ BẠN ĐỌC ĐƯỢC BIẾT.</div>
<div>TRÂN TRỌNG CÁM ƠN.</div>
</div>
</div>
]]></content:encoded>
			<wfw:commentRss>http://nguyentrongtao.org/2012/01/26/co-k%e1%ba%bb-rao-d%e1%ba%a5u-gia-ten-mi%e1%bb%81n-nguyentrongtao-com/feed/</wfw:commentRss>
		<slash:comments>0</slash:comments>
		</item>
	</channel>
</rss>

<!-- Dynamic page generated in 1.011 seconds. -->
<!-- Cached page generated by WP-Super-Cache on 2012-02-05 14:42:01 -->
<!-- Compression = gzip -->
